Điều 137 Luật Thương mại 2005: Bán, tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

Bình luận Điều 137 Luật Thương mại 2005 về bán, tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài và điều kiện áp dụng.

Điều 137. Bán, tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

1. Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài được phép bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Việc bán, tặng hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu nhưng đã được tạm xuất khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

3. Hàng hóa thuộc diện xuất khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được bán, tặng sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

4. Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài được bán, tặng, cung ứng ở nước ngoài phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Trọng tâm điều luật

Điều 137 thể hiện quan điểm quản lý rất rõ: cho phép thương nhân linh hoạt khai thác giá trị thương mại của hàng hóa, dịch vụ tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, nhưng không buông lỏng kiểm soát đối với các mặt hàng thuộc diện quản lý đặc biệt. Điểm cốt lõi không nằm ở việc có được mang hàng đi trưng bày hay không, mà nằm ở việc sau khi tham gia sự kiện, hàng hóa đó có được bán, tặng hay cung ứng hay không.

Quy định này tránh tình trạng lợi dụng hoạt động quảng bá, trưng bày để “hợp thức hóa” việc đưa hàng hóa ra nước ngoài rồi tiêu thụ như một giao dịch xuất khẩu thông thường. Đồng thời, nó tạo cơ chế hợp pháp để xử lý hàng mẫu, hàng trưng bày, hàng phục vụ xúc tiến thương mại theo đúng tính chất và mức độ quản lý của từng nhóm hàng.

Điều kiện để được áp dụng

Cần xác định đồng thời ba lớp điều kiện. Thứ nhất, hàng hóa hoặc dịch vụ phải của Việt Nam và tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài. Thứ hai, nếu là hàng thuộc diện cấm xuất khẩu hoặc hàng thuộc diện xuất khẩu phải có giấy phép, việc bán hoặc tặng chỉ được thực hiện khi có chấp thuận đúng thẩm quyền theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 137 Luật Thương mại 2005. Thứ ba, khi đã bán, tặng, cung ứng ở nước ngoài thì vẫn phải thực hiện đầy đủ thuế và nghĩa vụ tài chính theo pháp luật.

Điểm quan trọng là điều luật không tạo ra một quyền mặc nhiên cho mọi loại hàng hóa. Mỗi nhóm hàng phải được đối chiếu với chế độ quản lý xuất khẩu tương ứng; nếu hàng hóa đang chịu điều kiện, hạn chế hoặc cấm xuất khẩu, thẩm quyền chấp thuận là điều kiện bắt buộc trước khi định đoạt.

Những hiểu nhầm thường gặp

Hiểu nhầm phổ biến nhất là cho rằng hàng đã đưa đi hội chợ thì có thể bán, tặng tự do vì đó chỉ là hoạt động xúc tiến. Thực tế, quyền bán hoặc tặng chỉ phát sinh trong phạm vi mà Điều 137 cho phép và vẫn bị khóa bởi chế độ quản lý chuyên ngành đối với từng loại hàng.

Một hiểu nhầm khác là coi hàng tặng tại hội chợ là “quà biếu” nên không phải xử lý thủ tục. Ngược lại, việc tặng vẫn là một hành vi định đoạt hàng hóa, nên nếu hàng thuộc diện cấm xuất khẩu hoặc phải có giấy phép thì vẫn phải có chấp thuận tương ứng trước khi thực hiện.

Lưu ý khi áp dụng thực tế

Khi áp dụng điều này, cần kiểm tra trước bốn nội dung: loại hàng hóa, chế độ xuất khẩu áp dụng, tình trạng tạm xuất khẩu để tham gia hội chợ, và thẩm quyền phê duyệt việc bán hoặc tặng. Bỏ sót một trong bốn yếu tố này thường dẫn đến rủi ro vi phạm hành chính hoặc vướng mắc hải quan.

Về kỹ thuật pháp lý, Điều 137 không đứng độc lập mà phải đọc cùng quy định về quản lý hàng hóa xuất khẩu, giấy phép chuyên ngành và nghĩa vụ thuế. Trong thực tiễn, đây là điều khoản “mở cửa có điều kiện”: cho phép khai thác thương mại sau hội chợ, nhưng chỉ trong giới hạn kiểm soát của pháp luật quản lý xuất khẩu và tài chính công.

Ý nghĩa thực tiễn

Điều luật bảo vệ đồng thời hai lợi ích: thúc đẩy xúc tiến thương mại quốc tế và giữ kỷ luật quản lý đối với hàng hóa nhạy cảm. Với doanh nghiệp, giá trị lớn nhất của điều luật là xác định trước khả năng xử lý hàng trưng bày để chủ động phương án bán, tặng, hoàn nhập hoặc tái xuất. Với cơ quan quản lý, đây là cơ sở để kiểm soát dòng hàng hóa ra vào và ngăn việc lợi dụng hội chợ, triển lãm để né điều kiện xuất khẩu.

Hàng Việt Nam mang đi hội chợ ở nước ngoài có được bán ngay không?
Được, nếu không thuộc nhóm hàng bị hạn chế tại khoản 2 và khoản 3 Điều 137 Luật Thương mại 2005. Với hàng bị quản lý đặc biệt, phải có chấp thuận đúng thẩm quyền trước.
Hàng cấm xuất khẩu đã tạm xuất đi hội chợ có được tặng không?
Chỉ được tặng sau khi có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ theo khoản 2 Điều 137 Luật Thương mại 2005. Không có chấp thuận thì không được định đoạt.
Hàng thuộc diện phải có giấy phép xuất khẩu thì muốn bán tại hội chợ phải làm gì?
Phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo khoản 3 Điều 137 Luật Thương mại 2005 trước khi bán hoặc tặng.
Bán hàng tại hội chợ ở nước ngoài có phải nộp thuế không?
Có. Khoản 4 Điều 137 Luật Thương mại 2005 yêu cầu hàng hóa, dịch vụ bán, tặng, cung ứng ở nước ngoài phải chịu thuế và nghĩa vụ tài chính theo pháp luật.
Mục lục văn bản