Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

Bình luận Điều 74 Luật SHTT 2022 về khả năng phân biệt của nhãn hiệu, dấu hiệu bị loại trừ và lưu ý áp dụng thực tiễn.

Điều 74. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

1. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a)[140] Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn;

b)[141] Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ, tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, hình dạng thông thường của hàng hóa hoặc một phần của hàng hóa, hình dạng thông thường của bao bì hoặc vật chứa hàng hóa đã được sử dụng thường xuyên và thừa nhận rộng rãi trước ngày nộp đơn;

c)[142] Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc dấu hiệu làm gia tăng giá trị đáng kể cho hàng hóa, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước ngày nộp đơn;

d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

đ)[143] Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn hoặc được đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa, dịch vụ thực hiện theo quy định tại điểm đ1 khoản này;

đ1)[144] Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn hoặc dấu hiệu đó là yếu tố cấu thành của dấu hiệu có khả năng phân biệt được đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

e)[145] Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 hoặc bị hủy bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 96 theo thủ tục quy định tại điểm a khoản 3a Điều 114[146] của Luật này;

g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

h)[147] Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác đã được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá ba năm, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 theo thủ tục quy định tại điểm a khoản 3a Điều 114[148] của Luật này;

i)[149] Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng của người khác trước ngày nộp đơn đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hóa;

m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

n)[150] Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác đã hoặc đang được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu;

o)[151] Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên giống cây trồng đã hoặc đang được bảo hộ tại Việt Nam nếu dấu hiệu đó đăng ký cho hàng hóa là giống cây trồng cùng loài hoặc thuộc loài tương tự hoặc sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng;

p)[152] Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên gọi, hình ảnh của nhân vật, hình tượng trong tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả của người khác đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn, trừ trường hợp được phép của chủ sở hữu tác phẩm đó.

3.[153] Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.

Ý nghĩa của quy định

Điều 74 đặt ra tiêu chuẩn cốt lõi để một dấu hiệu được coi là nhãn hiệu có khả năng bảo hộ. Tinh thần của quy định là chỉ bảo hộ những dấu hiệu có khả năng giúp người tiêu dùng nhận biết hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể cụ thể, tránh độc quyền hóa những yếu tố cần được dùng chung trong thương mại. Vì vậy, điều luật vừa bảo vệ quyền chính đáng của chủ đơn, vừa giữ cân bằng với cạnh tranh lành mạnh và lợi ích chung.

Điều kiện để được coi là có khả năng phân biệt

Khoản 1 Điều 74 xác lập nguyên tắc khá rõ: dấu hiệu phải dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, hoặc là sự kết hợp tạo thành một tổng thể có khả năng nhận diện. Đây là tiêu chí thực chất, không đơn thuần dựa vào hình thức trình bày. Một dấu hiệu chỉ có giá trị bảo hộ khi nó tạo được “ấn tượng chỉ dẫn nguồn gốc” chứ không chỉ là mô tả sản phẩm.

Thực tiễn cần đặc biệt lưu ý rằng khả năng phân biệt có thể được hình thành từ quá trình sử dụng. Những dấu hiệu ban đầu không mạnh về tính phân biệt vẫn có thể được công nhận nếu đã được dùng lâu dài và được thị trường thừa nhận rộng rãi trước ngày nộp đơn. Đây là điểm quan trọng khi xử lý các nhãn hiệu có yếu tố mô tả, địa danh, hay hình thức bao bì thông dụng.

Các nhóm dấu hiệu thường bị loại trừ

Khoản 2 Điều 74 liệt kê các nhóm dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt, từ dấu hiệu quá đơn giản như hình học cơ bản, chữ số, chữ cái đơn lẻ đến các dấu hiệu mang tính mô tả đặc tính hàng hóa, dịch vụ. Nhà làm luật chủ ý không cho phép đăng ký những dấu hiệu mà cộng đồng kinh doanh cần được tự do sử dụng.

Đáng chú ý, các dấu hiệu mô tả thời gian, địa điểm, thành phần, công dụng, chất lượng, hình thức pháp lý hoặc lĩnh vực kinh doanh thường bị từ chối nếu không chứng minh được yếu tố thứ cấp do sử dụng. Đây là lỗi hiểu sai rất phổ biến: nhiều chủ đơn cho rằng chỉ cần ghép từ hoặc thiết kế lại chút ít là đủ tạo ra nhãn hiệu, trong khi bản chất mô tả vẫn không thay đổi.

Nhóm xung đột với quyền trước đó

Điều 74 không chỉ xét tính tự thân của dấu hiệu mà còn xét quan hệ với các quyền đang được bảo hộ trước đó. Các trường hợp trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký, nhãn hiệu đã sử dụng rộng rãi, nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên giống cây trồng và đối tượng quyền tác giả đều có thể bị loại trừ. Cách tiếp cận này cho thấy tiêu chí phân biệt trong nhãn hiệu là một tiêu chí tương đối, gắn với bối cảnh thị trường và quyền của chủ thể khác.

Trong các tình huống này, yếu tố then chốt không phải chỉ là giống hay khác về mặt hình thức, mà là khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại hoặc làm lợi dụng uy tín của đối tượng được bảo hộ trước. Vì vậy, khi thẩm định hoặc tranh tụng, cần so sánh tổng thể dấu hiệu, nhóm hàng hóa/dịch vụ, mức độ nhận biết của công chúng và thời điểm hình thành quyền.

Lưu ý khi áp dụng

Điều 74 thường được áp dụng cùng với tiêu chí thẩm định thực tế của cơ quan có thẩm quyền, nên việc chuẩn bị chứng cứ sử dụng là rất quan trọng. Nếu dấu hiệu có yếu tố mô tả, địa lý hoặc hình thức quen thuộc, hồ sơ cần chứng minh mức độ sử dụng, phạm vi tiếp cận thị trường, doanh số, quảng cáo và sự thừa nhận của người tiêu dùng. Thiếu chứng cứ, khả năng bị từ chối bảo hộ là rất cao.

Người nộp đơn cũng cần rà soát kỹ quyền trước đó để tránh xung đột. Một nhãn hiệu có vẻ “khác biệt” về tạo hình vẫn có thể bị từ chối nếu phần cốt lõi trùng hoặc tương tự với quyền đã tồn tại. Do đó, giá trị thực tiễn lớn nhất của Điều 74 là buộc chủ đơn kiểm tra cả khả năng tự phân biệt lẫn nguy cơ xâm phạm quyền của người khác trước khi nộp đơn.

Dấu hiệu nào dễ bị coi là không có khả năng phân biệt?
Các dấu hiệu quá đơn giản, mô tả trực tiếp hàng hóa, dịch vụ, hình dạng thông thường, hoặc trùng với quyền trước đó thường bị loại trừ theo khoản 2 Điều 74.
Một dấu hiệu mô tả có thể đăng ký làm nhãn hiệu không?
Có, nếu chủ đơn chứng minh dấu hiệu đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi trước ngày nộp đơn, tức đã đạt được khả năng phân biệt trên thực tế.
Chỉ cần khác một vài chi tiết là đủ tránh xung đột nhãn hiệu không?
Không. Việc đánh giá dựa trên tổng thể dấu hiệu và khả năng gây nhầm lẫn với quyền trước đó, không chỉ dựa vào vài khác biệt hình thức.
Điều 74 có áp dụng với tên thương mại và chỉ dẫn địa lý không?
Có. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ có thể bị từ chối nếu gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Muốn bảo hộ dấu hiệu khó phân biệt thì cần chuẩn bị gì?
Cần chứng cứ sử dụng thực tế, quảng cáo, doanh số, độ nhận biết trên thị trường và tài liệu chứng minh dấu hiệu đã được công chúng thừa nhận rộng rãi.
Mục lục văn bản