Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ[28]
Bình luận Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ về giới hạn quyền, cơ chế hạn chế, xung đột quyền và ngoại lệ dùng dữ liệu cho AI.
Điều 7. Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ
1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này.
2.[29] Việc khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
3.[30] Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ; việc giới hạn quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4.[31] Trường hợp một đối tượng mà có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập theo quy định tại Điều 6 của Luật này, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau đối với đối tượng đó bị buộc chấm dứt thực hiện khi việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau mâu thuẫn với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ đã phát sinh trước hoặc được xác lập trước. Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại khoản này do Tòa án quyết định. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
5.[32] Tổ chức, cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này.
Đối với văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, việc sử dụng văn bản và dữ liệu theo quy định tại khoản này còn phải thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Phạm vi quyền sở hữu trí tuệ không tuyệt đối
Điều 7 khẳng định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền trong phạm vi và thời hạn bảo hộ của luật chuyên ngành. Đây là điểm nền tảng để tránh hiểu sai rằng có đăng ký hoặc có sáng tạo thì đương nhiên được khai thác vô hạn về thời gian, không gian và cách thức.
Trong thực tiễn, mọi yêu cầu ngăn cản, xử lý vi phạm hay khai thác độc quyền đều phải đặt trong giới hạn được luật cho phép. Khi hết thời hạn bảo hộ hoặc vượt ra ngoài phạm vi bảo hộ, hành vi “đòi quyền” không còn cơ sở pháp lý.
Nguyên tắc cân bằng giữa quyền tư và lợi ích chung
Khoản 2 thể hiện rõ tinh thần cân bằng: việc khai thác và bảo vệ quyền SHTT không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đây là cơ chế chặn lạm dụng quyền, đặc biệt trong các tình huống chủ thể quyền dùng quyền SHTT để cản trở cạnh tranh lành mạnh, cản trở tiếp cận thông tin hoặc xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca cũng cho thấy đặc thù của đối tượng gắn với biểu tượng quốc gia: chủ thể quyền không được dùng quyền SHTT để ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng các biểu tượng này. Nghĩa là quyền tài sản và quyền nhân thân đối với đối tượng có yếu tố quốc gia luôn đứng sau lợi ích công.
Cơ chế hạn chế hoặc buộc cho phép sử dụng
Khoản 3 là cơ sở pháp lý cho biện pháp can thiệp của Nhà nước khi cần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Điều này cho thấy quyền SHTT có thể bị cấm, bị hạn chế hoặc bị buộc cấp phép trong những trường hợp luật định, chứ không chỉ bị xử lý theo cơ chế dân sự thông thường.
Điểm cần nắm là việc áp dụng cơ chế này không phải tùy nghi, mà phải dựa trên mục tiêu công và điều kiện phù hợp do luật quy định. Với sáng chế thuộc bí mật nhà nước hoặc đối tượng phát sinh từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, việc giới hạn quyền còn gắn với quy định chuyên biệt, không xử lý theo cách chung của mọi quyền SHTT.
Xung đột giữa các quyền phát sinh sau
Khoản 4 giải quyết tình huống một đối tượng đồng thời phát sinh hoặc được xác lập nhiều quyền SHTT. Nếu quyền phát sinh sau hoặc được xác lập sau mâu thuẫn với việc khai thác bình thường của quyền phát sinh trước hoặc được xác lập trước, quyền sau có thể bị buộc chấm dứt thực hiện.
Đây là quy tắc ưu tiên bảo vệ trạng thái khai thác hợp pháp đã hình thành trước, tránh việc một quyền mới được tạo lập để “đè” lên quyền đã có. Thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án, nên đây không phải là hệ quả tự động mà cần được xác định qua tranh chấp cụ thể.
Ngoại lệ cho nghiên cứu, thử nghiệm và huấn luyện AI
Khoản 5 mở rộng không gian sử dụng hợp pháp đối với văn bản và dữ liệu đã được công bố hợp pháp, công chúng được phép tiếp cận, nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, điều kiện then chốt là việc sử dụng không được ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
Không nên hiểu quy định này như một giấy phép tự do khai thác mọi dữ liệu có trên môi trường số. Chỉ những văn bản, dữ liệu đáp ứng đúng điều kiện về nguồn công bố hợp pháp, khả năng tiếp cận của công chúng và giới hạn tác động đến chủ thể quyền mới thuộc phạm vi được sử dụng.
Lưu ý áp dụng thực tiễn
- Luôn kiểm tra đồng thời ba lớp: đối tượng có được bảo hộ hay không, còn thời hạn bảo hộ hay không, và hành vi dự kiến có vượt phạm vi bảo hộ hay không.
- Không nhầm quyền SHTT với quyền tuyệt đối; quyền này luôn chịu giới hạn bởi lợi ích công, quyền của người khác và các cơ chế can thiệp của Nhà nước.
- Trong tranh chấp về quyền phát sinh sau xung đột với quyền phát sinh trước, cần ưu tiên chứng cứ về thời điểm phát sinh, xác lập và việc khai thác bình thường.
- Với dữ liệu phục vụ AI, phải kiểm tra kỹ tính hợp pháp của nguồn, mục đích sử dụng và mức độ ảnh hưởng đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền.
Hiểu đúng Điều 7 là hiểu rằng pháp luật sở hữu trí tuệ bảo vệ sáng tạo, nhưng không trao cho chủ thể quyền một sự độc quyền vượt lên trên lợi ích công cộng và trật tự pháp lý chung.