Điều 65 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Tính mới của kiểu dáng công nghiệp

Bình luận ngắn gọn về Điều 65 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: tính mới, bộc lộ công khai và ngoại lệ 6 tháng cho kiểu dáng công nghiệp.

Điều 65. Tính mới của kiểu dáng công nghiệp

1. Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên.

2. Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó.

3. Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó.

4.[132] Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về kiểu dáng công nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày bộc lộ.

5.[133] Quy định tại khoản 4 Điều này cũng áp dụng đối với kiểu dáng công nghiệp được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.

Điểm then chốt của tính mới

Điều 65 đặt ra tiêu chuẩn cốt lõi để một kiểu dáng công nghiệp được xem là có khả năng được bảo hộ: phải khác biệt đáng kể với những kiểu dáng đã bị bộc lộ công khai trước thời điểm nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên. Đây là tiêu chí mang tính sàng lọc, nhằm bảo đảm chỉ những kiểu dáng thực sự tạo ra dấu ấn tạo dáng mới trên thị trường mới được độc quyền hóa.

Điều cần lưu ý là pháp luật không đòi hỏi kiểu dáng phải hoàn toàn chưa từng xuất hiện dưới mọi chi tiết, mà đánh giá trên tổng thể tạo dáng. Vì vậy, một thay đổi nhỏ ở chi tiết phụ, khó nhận biết hoặc không đủ để phân biệt tổng thể, vẫn không làm phát sinh tính mới.

Cách hiểu đúng về “bộc lộ công khai”

Phạm vi bộc lộ được hiểu rất rộng: sử dụng thực tế, mô tả bằng văn bản, hình ảnh, trình chiếu hoặc bất kỳ hình thức nào khác, tại Việt Nam hoặc nước ngoài. Điều này cho thấy nhà làm luật ưu tiên trạng thái tiếp cận của công chúng hơn là nơi chốn hay phương tiện bộc lộ.

Ngược lại, nếu chỉ một số người có hạn biết được kiểu dáng và họ có nghĩa vụ giữ bí mật, thì chưa bị coi là bộc lộ công khai. Đây là điểm thường bị nhầm lẫn với “đã có người biết”; trên thực tế, yếu tố quyết định là mức độ tiếp cận của công chúng và nghĩa vụ bảo mật đi kèm.

Ngoại lệ 6 tháng: cơ chế bảo lưu quyền đăng ký

Khoản 4 và khoản 5 là ngoại lệ quan trọng nhằm tránh việc mất tính mới do chính người có quyền đăng ký hoặc người nhận thông tin từ họ công bố kiểu dáng. Nếu nộp đơn trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bộc lộ, kiểu dáng không bị coi là mất tính mới.

Quy định này phản ánh chính sách cân bằng giữa bảo hộ quyền sáng tạo và nhu cầu thử nghiệm, trưng bày, công bố ban đầu của chủ thể quyền. Tuy nhiên, đây là ngoại lệ có điều kiện chặt chẽ: phải xác định đúng người bộc lộ, đúng nguồn gốc thông tin, và phải kiểm soát nghiêm thời hạn 6 tháng.

Những điểm dễ nhầm trong thực tiễn

Một sai lầm phổ biến là cho rằng chỉ cần kiểu dáng “khác vài nét” là đủ mới. Trên thực tế, nếu sự khác biệt chỉ nằm ở các yếu tố tạo dáng khó nhận biết, khó ghi nhớ, hoặc không làm thay đổi ấn tượng tổng thể, thì kiểu dáng vẫn bị coi là không khác biệt đáng kể.

Một nhầm lẫn khác là đánh giá tính mới chỉ dựa vào tài liệu tra cứu trong nước. Điều 65 đã mở rộng rõ sang cả công bố ở nước ngoài, nên mọi bộc lộ công khai trước ngày nộp đơn đều có thể là căn cứ làm mất tính mới.

Ý nghĩa áp dụng

Trong thực tế nộp đơn, Điều 65 buộc chủ thể quyền phải quản trị thời điểm công bố và thời điểm nộp đơn một cách rất chặt chẽ. Muốn bảo hộ an toàn, cần kiểm tra toàn bộ lịch sử bộc lộ của kiểu dáng, kể cả trưng bày, quảng bá, công bố học thuật và bộc lộ qua bên thứ ba.

Với cơ quan thẩm định và bên tranh chấp, trọng tâm không chỉ là “có giống hay không”, mà là mức độ giống trên tổng thể tạo dáng trong tương quan với nguồn đối chứng đã công khai. Đây là điều quyết định khả năng được cấp văn bằng cũng như khả năng bị phản đối, hủy bỏ sau này.

Kiểu dáng công nghiệp mới được hiểu theo tiêu chí nào?
Phải khác biệt đáng kể với mọi kiểu dáng đã bị bộc lộ công khai trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, xét trên tổng thể tạo dáng.
Chỉ khác một vài chi tiết nhỏ thì có được coi là mới không?
Không. Nếu chỉ khác ở các chi tiết khó nhận biết, khó ghi nhớ và không phân biệt được tổng thể, kiểu dáng vẫn không được coi là khác biệt đáng kể.
Thế nào là bộc lộ công khai?
Là việc kiểu dáng đã được công chúng tiếp cận qua sử dụng, mô tả, hình ảnh hoặc hình thức khác, trong nước hay nước ngoài.
Công bố bởi chính chủ thể quyền có làm mất tính mới không?
Không nhất thiết. Nếu nộp đơn trong 6 tháng kể từ ngày bộc lộ theo điều kiện luật định, kiểu dáng vẫn không bị coi là mất tính mới.
Bộc lộ trong điều kiện bí mật có tính là công khai không?
Không. Nếu chỉ một số người có hạn biết và họ có nghĩa vụ giữ bí mật, kiểu dáng chưa bị xem là bộc lộ công khai.
Mục lục văn bản