Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Tính mới của sáng chế
Bình luận Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ về tính mới của sáng chế, các trường hợp mất tính mới và ngoại lệ 12 tháng.
Điều 60. Tính mới của sáng chế
1.[127] Sáng chế được coi là có tính mới nếu không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên;
b) Bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế đó.
2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
3.[128] Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86[129] của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ.
4.[130] Quy định tại khoản 3 Điều này cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.
Ý nghĩa của quy định về tính mới
Tính mới là điều kiện sàng lọc ban đầu, nhằm bảo đảm chỉ những giải pháp kỹ thuật thực sự chưa trở thành tri thức công cộng mới được xem xét bảo hộ. Cách thiết kế này phản ánh quan điểm nhất quán của pháp luật sở hữu trí tuệ: bằng độc quyền sáng chế chỉ dành cho phần đóng góp chưa bị phổ biến hóa, không bảo hộ lại những gì xã hội đã biết.
Trong thực tiễn, Điều 60 là căn cứ bị viện dẫn nhiều nhất khi thẩm định khả năng bảo hộ sáng chế. Một hồ sơ có thể đáp ứng trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp nhưng vẫn bị từ chối nếu mất tính mới. Vì vậy, tính mới luôn là “cửa đầu”, không phải tiêu chí phụ.
Các dấu hiệu làm mất tính mới
Điểm mấu chốt là mọi hình thức bộc lộ công khai trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên đều có thể làm mất tính mới. Bộc lộ không chỉ là đăng báo hay công bố học thuật, mà còn gồm sử dụng công khai, trình diễn, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài.
Ngoài ra, một sáng chế cũng bị coi là không mới nếu nó đã xuất hiện trong một đơn sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn, dù đơn đó chỉ được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn của đơn đang xét. Cần phân biệt rõ giữa thời điểm nộp/ưu tiên và thời điểm công bố; đây là lỗi nhầm lẫn rất thường gặp khi tra cứu đối chứng.
Ngoại lệ cần đặc biệt lưu ý
Pháp luật vẫn bảo lưu ngoại lệ “ân hạn” 12 tháng khi việc bộc lộ xuất phát từ người có quyền đăng ký hoặc từ người nhận thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó, với điều kiện đơn được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ. Quy định này nhằm tránh bất lợi cho chủ thể sáng tạo khi họ tự công bố sớm hoặc bị công bố trong phạm vi kiểm soát của mình.
Khoản 4 mở rộng ngoại lệ này cho trường hợp sáng chế bị công bố trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước công bố nhưng việc công bố không đúng pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp. Đây là cơ chế xử lý các tình huống “lộ thông tin” do sai sót thủ tục hoặc nộp đơn không hợp lệ, tránh để người không có quyền hưởng lợi từ việc công bố đó.
Điểm dễ hiểu sai trong áp dụng
Nhiều người cho rằng chỉ khi sáng chế bị sao chép nguyên văn mới mất tính mới; thực tế, chỉ cần nội dung kỹ thuật đã được bộc lộ đủ để người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực đó nhận ra giải pháp là đã phát sinh rủi ro mất tính mới. Cũng không nên nhầm lẫn giữa “bí mật kinh doanh” và “tính mới”: thông tin chỉ còn trong nhóm người hạn chế, có nghĩa vụ giữ bí mật, thì chưa bị coi là bộc lộ công khai.
Trong thực hành đăng ký, mốc thời gian phải được kiểm soát rất chặt. Chỉ cần công bố trước ngày nộp đơn mà không thuộc ngoại lệ, khả năng mất tính mới gần như là hệ quả pháp lý trực tiếp. Vì vậy, chiến lược đúng là nộp đơn trước khi công bố, hoặc nếu đã công bố thì phải kiểm tra ngay điều kiện hưởng ngoại lệ 12 tháng.
Lưu ý áp dụng thực tế
- Khi tra cứu tính mới, phải rà soát cả tài liệu trong nước và nước ngoài, không giới hạn ở một thị trường.
- Cần đối chiếu đồng thời ba mốc: ngày bộc lộ, ngày nộp đơn và ngày ưu tiên.
- Nếu có công bố từ chính chủ thể sáng chế, phải chứng minh nguồn gốc công bố và thời hạn 12 tháng.
- Hồ sơ nội bộ, email, bản trình bày, demo sản phẩm cũng có thể trở thành căn cứ đánh giá bộc lộ công khai nếu đã tiếp cận công chúng.
Hiểu đúng bản chất
Điều 60 không nhằm đánh giá mức độ hay chất lượng kỹ thuật của sáng chế, mà xác định xem đối tượng đó còn “mới” để được bảo hộ hay đã thuộc về tri thức công cộng. Nói cách khác, đây là quy định về ranh giới giữa độc quyền sáng chế và tự do khai thác của xã hội.