Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[114]
Bình luận ngắn gọn Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ về tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, ủy quyền và bản quyền.
Điều 56. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[115] là tổ chức tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động, không vì mục đích lợi nhuận do các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện ủy thác quyền tác giả, quyền liên quan, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hoạt động đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[116] thực hiện các hoạt động sau đây theo ủy quyền bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:
a) Thực hiện việc quản lý quyền tác giả, quyền liên quan; đàm phán cấp phép, thu và phân chia tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền được ủy quyền;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh chấp.
3. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[117] có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành của tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[118] với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng;
b) Xây dựng danh mục tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền; tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[119] đang quản lý; phạm vi ủy quyền; hiệu lực hợp đồng ủy quyền; kế hoạch và kết quả hoạt động thu, phân chia tiền bản quyền;
c) Xây dựng biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền căn cứ vào các nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 44a của Luật này;
d) Thu, phân chia tiền bản quyền theo quy định tại điều lệ của tổ chức và văn bản ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền bản quyền; theo nguyên tắc công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật.
Việc thu, phân chia tiền bản quyền từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối;
đ) Được giữ lại một khoản tiền trên tổng số tiền bản quyền thu được để chi cho việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền. Mức tiền giữ lại được điều chỉnh trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền và có thể được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền thu được;
e) Phân chia tiền bản quyền thu được từ việc cấp phép khai thác, sử dụng cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan sau khi trừ chi phí quy định tại điểm đ khoản này;
g) Báo cáo hằng năm và đột xuất về hoạt động đại diện tập thể cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
h) Được thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển văn hóa, khuyến khích sáng tạo và các hoạt động xã hội khác;
i) Hợp tác, ký kết các thỏa thuận đại diện có đi có lại với các tổ chức tương ứng của tổ chức quốc tế và của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan;
k) Thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[120], bảo đảm các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền được quyền ứng cử, bầu cử vào các chức danh lãnh đạo, quản lý, kiểm soát của tổ chức.
4. Trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[121] được ủy quyền quản lý, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền bản quyền theo điều lệ của tổ chức và văn bản ủy quyền.
5. Trường hợp tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan[122] sau năm năm tìm kiếm để phân chia tiền bản quyền thu được mà vẫn không tìm thấy hoặc không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền thì bàn giao khoản tiền này về cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý sau khi trừ chi phí quản lý, tìm kiếm theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Sau khi nhận bàn giao, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục thông báo tìm kiếm trong thời hạn năm năm. Kết thúc thời hạn này, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn không thể tìm thấy hoặc không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật thì khoản tiền này được sử dụng vào các hoạt động khuyến khích sáng tạo, tuyên truyền và đẩy mạnh thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Trong các thời hạn nêu trên, khi tìm thấy hoặc liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật thì khoản tiền này sau khi trừ chi phí quản lý, tìm kiếm được chi trả cho những người nêu trên theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Vai trò của điều luật
Điều 56 thiết lập khuôn khổ pháp lý cho tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan như một thiết chế hỗ trợ khai thác quyền trong thực tiễn. Cơ chế này được xây dựng để khắc phục tình trạng chủ thể quyền khó tự mình đàm phán, theo dõi, thu tiền và bảo vệ quyền trên diện rộng. Điểm cốt lõi là tổ chức hoạt động theo ủy quyền bằng văn bản, không đương nhiên đại diện cho mọi chủ thể quyền.
Điều kiện để áp dụng
Muốn vận hành theo Điều 56 phải có tổ chức được thành lập hợp pháp bởi các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và tự bảo đảm kinh phí. Quan hệ giữa tổ chức với từng chủ thể quyền phải được xác lập bằng văn bản ủy quyền, trong đó xác định rõ phạm vi quyền, thời hạn, phương thức thu và phân chia tiền bản quyền. Không có ủy quyền thì không phát sinh quyền đại diện quản lý theo điều này.
Trọng tâm khi áp dụng
Điều luật nhấn mạnh ba yêu cầu thực thi: công khai, minh bạch, phân chia đúng thỏa thuận. Tổ chức phải công bố danh mục chủ thể quyền, tác phẩm và phạm vi ủy quyền; đồng thời xây dựng biểu mức, phương thức thanh toán tiền bản quyền để trình phê duyệt theo quy định. Đây là cơ chế kiểm soát nhằm bảo đảm tiền bản quyền được thu đúng, trừ chi phí đúng và phân chia đúng cho người có quyền.
Đáng chú ý, tổ chức chỉ được giữ lại một khoản chi phí trên cơ sở thỏa thuận với bên ủy quyền, nên không thể tự ý đặt ra mức khấu trừ tùy nghi. Việc thu, phân chia tiền từ tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế còn phải tuân thủ pháp luật về quản lý ngoại hối. Quy định này cho thấy điều luật không chỉ điều chỉnh quan hệ dân sự nội bộ mà còn gắn với quản trị tài chính, dòng tiền xuyên biên giới và trách nhiệm tuân thủ công khai.
Những hiểu nhầm thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là coi tổ chức quản lý tập thể như cơ quan nhà nước hoặc như một bên có quyền tự động cấp phép mọi khai thác. Thực chất, đây là tổ chức trung gian đại diện theo ủy quyền, nên quyền hạn luôn bị giới hạn bởi văn bản ủy quyền và điều lệ tổ chức. Một nhầm lẫn khác là cho rằng mọi tác giả, chủ sở hữu quyền đều mặc nhiên thuộc phạm vi đại diện của tổ chức; điều luật không thừa nhận cách hiểu này.
Không nên đồng nhất việc tổ chức thu tiền bản quyền với việc toàn quyền định đoạt quyền tác giả. Tổ chức chỉ thực hiện các nhiệm vụ được giao, còn quyền gốc vẫn thuộc về tác giả hoặc chủ sở hữu quyền. Khi có nhiều tổ chức cùng liên quan đến một tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức đứng ra đàm phán, nhưng đó vẫn là giải pháp kỹ thuật về đại diện, không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu.
Cơ chế xử lý tiền bản quyền không tìm được chủ
Quy định về thời hạn 5 năm tìm kiếm rồi bàn giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể hiện rõ nguyên tắc không để tiền bản quyền “treo” vô thời hạn trong hệ thống quản lý tập thể. Cơ chế này bảo đảm nguồn tiền chưa xác định được chủ vẫn được quản lý tập trung, sau đó tiếp tục tìm kiếm thêm 5 năm. Chỉ khi hết thời hạn mà vẫn không xác định được chủ thể quyền thì khoản tiền mới được sử dụng cho các hoạt động khuyến khích sáng tạo và tuyên truyền, thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
Lưu ý thực tiễn
Khi xử lý một vụ việc cụ thể, cần kiểm tra trước hết: tổ chức có được thành lập hợp lệ không, người yêu cầu có ủy quyền bằng văn bản không, phạm vi ủy quyền có bao gồm quyền đang tranh chấp không, và biểu mức phí đã được phê duyệt đúng trình tự chưa. Nếu thiếu một trong các yếu tố này, việc thu, cấp phép hoặc phân chia tiền bản quyền dễ bị coi là vượt quá thẩm quyền. Đây là điều luật mang tính cơ chế, nên giá trị áp dụng nằm ở việc kiểm tra đúng quy trình và đúng phạm vi đại diện.