Điều 44a Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền[92]
Phân tích ngắn gọn Điều 44a Luật Sở hữu trí tuệ về nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền, ưu tiên thỏa thuận và cân bằng lợi ích.
Điều 44a. Nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền
1. Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ lệ phân chia tiền bản quyền theo phần tham gia sáng tạo đối với toàn bộ tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, phần vốn góp và phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.
2. Tỷ lệ phân chia tiền bản quyền khi bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện theo thỏa thuận của chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình đó; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Tiền bản quyền được xác định theo khung và biểu mức căn cứ vào loại hình, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng; hài hòa lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo thời gian và địa điểm diễn ra hành vi khai thác, sử dụng đó.
Ý nghĩa của quy định
Điều 44a hướng tới việc chuẩn hóa cách xác định và phân chia tiền bản quyền trong các quan hệ đồng sở hữu và khai thác quyền liên quan. Tinh thần của điều luật là bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người sáng tạo, chủ sở hữu quyền và bên sử dụng, đồng thời giảm xung đột khi có nhiều chủ thể cùng có quyền đối với một đối tượng khai thác.
Quy định này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng thường gắn với nhiều chủ thể tham gia sáng tạo, đầu tư và khai thác. Vì vậy, pháp luật không ấn định một tỷ lệ cứng cho mọi trường hợp mà đặt trọng tâm vào thỏa thuận và sự phù hợp với thực tế sử dụng.
Điểm cần nắm khi áp dụng
1. Trọng tâm là cơ chế thỏa thuận
Khoản 1 đặt nguyên tắc các đồng chủ sở hữu tự thỏa thuận tỷ lệ phân chia theo phần tham gia sáng tạo, theo toàn bộ đối tượng quyền và theo hình thức khai thác, sử dụng. Đây là điểm thể hiện rõ ý chí tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể quyền trong quan hệ sở hữu trí tuệ.
Trong thực tiễn, thỏa thuận cần xác định rõ căn cứ phân chia, thời điểm thanh toán, phạm vi khai thác và cách xử lý doanh thu phát sinh từ nhiều hình thức sử dụng khác nhau. Nếu không quy định cụ thể, tranh chấp thường phát sinh ở khâu chứng minh mức đóng góp và xác định doanh thu làm căn cứ chia.
2. Có cơ chế riêng cho bản ghi âm, ghi hình
Khoản 2 tách riêng trường hợp bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ. Khi đó, tỷ lệ phân chia không chỉ phụ thuộc vào một nhóm chủ thể mà phải tính đến thỏa thuận giữa chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình.
Nếu các bên không đạt được thỏa thuận, việc phân chia sẽ thực hiện theo quy định của Chính phủ. Cách thiết kế này cho thấy pháp luật ưu tiên vận hành thị trường có thỏa thuận, nhưng vẫn tạo “đường ra” pháp lý để tránh bế tắc khi quyền lợi của nhiều bên giao thoa.
3. Tiền bản quyền không phải con số tùy ý
Khoản 3 yêu cầu xác định tiền bản quyền theo khung và biểu mức, căn cứ vào loại hình, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng. Điều luật loại bỏ cách hiểu rằng phí bản quyền có thể ấn định tùy tiện, không dựa trên tiêu chí khách quan.
Khung tính phải bảo đảm hài hòa lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ. Đây là tiêu chí cân bằng lợi ích, tránh tình trạng mức bản quyền quá cao làm cản trở khai thác, hoặc quá thấp làm giảm động lực sáng tạo.
Điều kiện để điều luật được “kích hoạt”
Để áp dụng Điều 44a, trước hết phải có quan hệ đồng sở hữu quyền tác giả hoặc đồng chủ sở hữu quyền liên quan, hoặc có tình huống khai thác làm phát sinh nghĩa vụ xác định và phân chia tiền bản quyền. Tiếp theo, phải có hành vi khai thác, sử dụng đối tượng quyền làm phát sinh khoản tiền bản quyền cần xác định. Với bản ghi âm, ghi hình, còn phải có sự tham gia của các chủ thể được nêu tại khoản 2 để xác định đúng phạm vi quyền và nghĩa vụ chia sẻ.
Nếu đã có thỏa thuận hợp lệ thì ưu tiên áp dụng thỏa thuận đó, miễn không trái quy định bắt buộc của pháp luật. Chỉ khi không đạt được thỏa thuận, hoặc thỏa thuận không bao quát đầy đủ, mới chuyển sang cơ chế pháp định do Chính phủ quy định.
Hiểu đúng để tránh tranh chấp
Không nên hiểu Điều 44a là quy định ấn định sẵn tỷ lệ chia cho mọi trường hợp. Điều luật chỉ đặt nguyên tắc và tiêu chí; tỷ lệ cụ thể vẫn phụ thuộc vào thỏa thuận hoặc cơ chế hướng dẫn của Chính phủ khi không có thỏa thuận.
Cũng không nên đồng nhất “phần tham gia sáng tạo” với quyền sở hữu hình thức. Một người có thể không đứng tên chủ sở hữu nhưng vẫn có đóng góp sáng tạo hoặc biểu diễn làm căn cứ phân chia tiền bản quyền theo đúng bản chất của giao dịch và quyền liên quan.
Trong tranh chấp thực tế, yếu tố quyết định thường là chứng cứ về mức đóng góp, phạm vi khai thác và doanh thu thực tế từ việc sử dụng. Bên nào không chứng minh được cơ sở phân chia sẽ gặp bất lợi khi yêu cầu thanh toán hoặc bác bỏ tỷ lệ mà bên kia đưa ra.
Lưu ý thực tiễn
Các chủ thể nên lập thỏa thuận bằng văn bản, quy định rõ tỷ lệ, phương thức tính, thời điểm quyết toán và cơ chế xử lý khi mở rộng hình thức khai thác. Với bản ghi âm, ghi hình, cần tách bạch phần quyền của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan để tránh chồng lấn nghĩa vụ thanh toán.
Trong các hợp đồng khai thác thương mại, nên quy định luôn cách kiểm soát doanh thu, báo cáo sử dụng và cơ chế kiểm tra số liệu. Đây là cách giảm tranh chấp hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ viện dẫn nguyên tắc chung sau khi phát sinh mâu thuẫn.