Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là Nhà nước[86]
Bình luận ngắn gọn về Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: khi nào Nhà nước là chủ sở hữu, khi nào chỉ quản lý quyền và lưu ý áp dụng.
Điều 42. Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là Nhà nước
1. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp sau đây:
a)[87] Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sáng tạo bằng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu;
b) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan cho Nhà nước;
c) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan chết không có người thừa kế; người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.
2. Nhà nước đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan trong các trường hợp sau đây:
a) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật này;
b) Tác phẩm khuyết danh cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả được xác định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này.
3.[88] Xác định cơ quan là đại diện chủ sở hữu, cơ quan đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan:
a) Cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu để tạo ra tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Cơ quan nhận chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp sau: trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4.[89] Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này; quy định tiền bản quyền trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Ý nghĩa điều chỉnh
Điều 42 thiết kế một cơ chế “bù đắp khoảng trống chủ thể” trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Khi tác phẩm hoặc quyền liên quan gắn với ngân sách nhà nước, được chuyển giao cho Nhà nước, hoặc không còn ai có thể thực hiện quyền hợp pháp, Nhà nước trở thành đầu mối pháp lý để bảo đảm quyền được xác lập, quản lý và khai thác thống nhất. Cách tiếp cận này nhằm tránh tình trạng tài sản trí tuệ rơi vào trạng thái vô chủ, gây khó cho quản lý công, sử dụng xã hội và xử lý lợi ích công cộng.
Điểm cần phân biệt
Đại diện chủ sở hữu và đại diện quản lý là hai chế định khác nhau, không được đồng nhất. Ở khoản 1, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, tức có vị trí pháp lý gần với chủ thể quyền để thực hiện quyền tài sản trong phạm vi luật cho phép. Ở khoản 2, Nhà nước chỉ đại diện quản lý, nghĩa là tổ chức việc quản lý quyền khi chủ thể thật sự chưa xác định được hoặc chưa thể tìm thấy, chứ không đương nhiên đồng nghĩa với việc Nhà nước trở thành chủ sở hữu theo nghĩa đầy đủ.
Điều kiện để áp dụng
Muốn áp dụng khoản 1, phải có một trong ba nhóm căn cứ: sáng tạo bằng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu; có hành vi chuyển giao quyền cho Nhà nước; hoặc chủ thể quyền chết mà không còn người thừa kế hợp pháp, hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản hay không được hưởng di sản. Muốn áp dụng khoản 2, phải có tình trạng không xác định được hoặc không tìm được chủ sở hữu quyền, hoặc tác phẩm khuyết danh cho đến khi danh tính chủ thể được xác định. Đây là các điều kiện mang tính loại trừ, nên không thể suy diễn mở rộng ra ngoài đúng trường hợp luật định.
Cách hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ tác phẩm do cơ quan nhà nước đặt hàng thì Nhà nước đương nhiên có toàn quyền tuyệt đối. Thực ra, phải xác định đúng nguồn kinh phí, phương thức tạo lập và cơ quan được giao đại diện theo khoản 3; nếu thiếu một mắt xích, việc xác lập chủ thể quyền có thể không vận hành như dự liệu. Nhầm lẫn thứ hai là coi tác phẩm khuyết danh luôn thuộc sở hữu Nhà nước; điều này không đúng vì tác phẩm khuyết danh chỉ được Nhà nước quản lý cho đến khi chủ thể quyền được xác định, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Lưu ý khi áp dụng
Khoản 3 có ý nghĩa thực hành rất lớn vì chỉ rõ cơ quan nào nhân danh Nhà nước thực hiện quyền trong từng trường hợp. Đây là điểm cần kiểm tra đầu tiên khi xử lý hồ sơ khai thác, cấp phép, thu tiền bản quyền hoặc giải quyết tranh chấp. Khoản 4 giao Chính phủ quy định chi tiết và quy định tiền bản quyền, nên việc áp dụng Điều 42 luôn phải đọc cùng văn bản hướng dẫn để xác định đúng thẩm quyền, trình tự và chế độ tài chính.
Kết luận thực tiễn
Điều 42 không chỉ là quy định về “ai đứng tên quyền”, mà còn là quy tắc phân bổ thẩm quyền quản lý tài sản trí tuệ có yếu tố Nhà nước. Khi gặp tình huống có ngân sách nhà nước, có chuyển giao quyền, hoặc không xác định được chủ thể quyền, cần kiểm tra đồng thời nguồn gốc hình thành, tình trạng chủ thể và cơ quan đại diện được giao theo luật. Cách đọc đúng điều luật này là đọc theo logic căn cứ phát sinh quyền → cơ quan đại diện → cơ chế tiền bản quyền.