Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
Bình luận Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ về đồng tác giả, quyền chung, phần riêng biệt và các lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 38. Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
1. Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó.
2. Các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó.
Ý nghĩa của quy định
Điều 38 đặt ra cơ chế xử lý cho trường hợp nhiều người cùng sáng tạo ra một tác phẩm. Mục tiêu của quy định là bảo vệ công sức sáng tạo chung, đồng thời tránh việc một đồng tác giả tự ý chiếm trọn quyền đối với toàn bộ tác phẩm. Đây là nền tảng quan trọng để xác định quyền nhân thân và quyền tài sản trong các dự án sáng tạo có nhiều người tham gia.
Điều kiện để áp dụng
Quy định này chỉ được kích hoạt khi có sự cùng sáng tạo thực chất vào một tác phẩm. Việc cùng góp ý, hỗ trợ kỹ thuật, tài trợ kinh phí hoặc cung cấp phương tiện chưa đủ để mặc nhiên trở thành đồng tác giả nếu không có đóng góp sáng tạo trực tiếp. Cần phân biệt rõ giữa người sáng tạo và người hỗ trợ, vì chỉ người thuộc nhóm sáng tạo mới phát sinh tư cách đồng tác giả theo điều luật này.
Phần sáng tạo chung và phần riêng biệt
Đây là điểm cốt lõi của Điều 38. Với phần do nhiều người cùng sáng tạo và không thể tách rời, các đồng tác giả cùng có quyền theo Điều 19 và Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ. Ngược lại, nếu trong cùng một tác phẩm có phần riêng biệt tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của người khác, thì từng tác giả vẫn giữ quyền đối với phần riêng đó. Cách hiểu này giúp tránh đồng nhất toàn bộ tác phẩm với toàn bộ quyền của mọi người tham gia.
Hiểu đúng để tránh tranh chấp
Nhiều tranh chấp phát sinh từ việc đồng nhất “có tên trong dự án” với “có quyền đồng tác giả”. Thực tế, quyền đồng tác giả chỉ hình thành khi có đóng góp sáng tạo vào kết quả tác phẩm, không phụ thuộc vào chức danh hay mức độ quản lý dự án. Một nhầm lẫn khác là cho rằng mỗi đồng tác giả đều có quyền đơn phương khai thác toàn bộ tác phẩm; cách hiểu này không phù hợp với bản chất sở hữu chung và dễ dẫn đến vi phạm quyền của người còn lại.
Lưu ý khi áp dụng thực tiễn
Khi xác lập đồng tác giả, nên làm rõ ngay từ đầu phạm vi đóng góp của từng người, phần nào là sáng tạo chung, phần nào là phần riêng biệt. Hợp đồng, biên bản làm việc, bản thảo và lịch sử chỉnh sửa là chứng cứ quan trọng để chứng minh tư cách đồng tác giả. Trong trường hợp có phần riêng biệt có thể tách sử dụng, cần tách bạch quyền đối với phần đó để tránh tranh chấp về khai thác, công bố và định đoạt quyền tài sản sau này.