Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Giới hạn quyền liên quan[77]
Bình luận Điều 33 Luật SHTT 2005 về giới hạn quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình: không xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền.
Điều 33. Giới hạn quyền liên quan
1. Các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình bao gồm:
a) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng[78] có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng[79] không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;
b) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.
2. Việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
2a.[80] Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình thực hiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này theo quy định của Chính phủ.
3. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền liên quan thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Ý nghĩa của quy định
Điều 33 cho thấy pháp luật không tuyệt đối hóa quyền kiểm soát của chủ sở hữu quyền liên quan, mà cho phép xã hội khai thác bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong những ngưỡng nhất định. Cách thiết kế này bảo đảm lưu thông nội dung trên thị trường, đồng thời buộc bên sử dụng phải chia sẻ giá trị khai thác với người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Đây là một cơ chế cân bằng lợi ích, không phải là sự miễn trừ trách nhiệm bản quyền.
Khi nào được áp dụng
Điều luật chỉ kích hoạt khi đối tượng sử dụng là bản ghi âm, ghi hình đã công bố. Nếu bản ghi chưa công bố, hoặc việc sử dụng vượt ra ngoài phạm vi mà Điều 33 cho phép, thì không thể viện dẫn điều khoản này để né nghĩa vụ xin phép. Ngoài ra, người sử dụng phải rơi đúng vào nhóm hành vi được liệt kê tại khoản 1, tức là sử dụng vì mục đích thương mại nhưng thuộc trường hợp pháp luật cho phép khai thác không cần xin phép.
Ba điểm phải nhớ khi áp dụng
Thứ nhất, không xin phép không đồng nghĩa không phải trả tiền. Trong các trường hợp nêu tại khoản 1, nghĩa vụ cốt lõi là trả tiền bản quyền theo thỏa thuận hoặc theo cơ chế do Chính phủ quy định khi không đạt được thỏa thuận. Thứ hai, còn phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình theo yêu cầu của luật; đây là nghĩa vụ nhận diện nguồn quyền, không phải thủ tục hình thức. Thứ ba, việc sử dụng phải bảo đảm không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường và không gây thiệt hại bất hợp lý cho chủ thể quyền, theo khoản 2.
Những hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ dùng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh thì luôn được tự do sử dụng. Thực tế, Điều 33 không trao quyền khai thác vô điều kiện; nó chỉ cho phép sử dụng trong khung hẹp, kèm nghĩa vụ tài chính và nghĩa vụ thông tin. Một nhầm lẫn khác là đồng nhất “đã công bố” với “được phép dùng mọi mục đích”; pháp luật vẫn giới hạn theo tính chất thương mại, theo phương thức sử dụng và theo tác động đến lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.
Lưu ý thực tiễn
Đối với đơn vị phát thanh, truyền hình, khoản 2a đặt họ vào cơ chế riêng và phải tuân theo quy định của Chính phủ khi thực hiện quyền sử dụng nêu tại điểm a khoản 1. Với trường hợp không xác định được hoặc không tìm được chủ sở hữu quyền liên quan, khoản 3 không cho phép tự ý khai thác mà phải đi theo quy định của Chính phủ. Vì vậy, khi xử lý một tình huống cụ thể, cần tách rõ: đối tượng có thực sự đã công bố hay chưa, mục đích sử dụng có thuộc phạm vi Điều 33 hay không, và nghĩa vụ thanh toán đã được xác lập đúng cơ chế chưa.
Về bản chất, Điều 33 không phải là “ngoại lệ miễn phí”, mà là cơ chế sử dụng có điều kiện. Điểm mấu chốt để áp dụng đúng là nhận diện đúng phạm vi được phép, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền bản quyền, và không làm suy giảm giá trị khai thác bình thường của bản ghi.
Kết luận ngắn
Điều 33 được xây dựng để cân bằng giữa quyền liên quan và nhu cầu khai thác thương mại hợp pháp. Người sử dụng chỉ được hưởng cơ chế không xin phép khi đáp ứng đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng nghĩa vụ thanh toán và không gây thiệt hại bất hợp lý cho chủ thể quyền.