Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Quyền của người biểu diễn[73]

Bình luận ngắn gọn Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 về quyền nhân thân, quyền tài sản và ngoại lệ khi khai thác cuộc biểu diễn.

Điều 29. Quyền của người biểu diễn

1. Người biểu diễn có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn theo quy định của Luật này.

Trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn thì người biểu diễn được hưởng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều này; chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn được hưởng các quyền tài sản quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Quyền nhân thân bao gồm:

a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;

b) Bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

3. Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:

a) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;

b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều này;

c) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;

d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 5 Điều này;

đ) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn;

e) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.

4. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 3 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.

5. Chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:

a) Sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;

b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.

Trọng tâm bảo hộ: bảo vệ cả nhân thân lẫn giá trị khai thác

Điều 29 đặt người biểu diễn vào vị trí chủ thể trung tâm của quyền liên quan, không chỉ được bảo vệ về mặt danh tính và uy tín mà còn được kiểm soát việc khai thác thương mại cuộc biểu diễn. Cách thiết kế này cho thấy mục tiêu của luật là cân bằng giữa khuyến khích sáng tạo, đầu tư nghệ thuật và kiểm soát hành vi sử dụng thương mại từ bên thứ ba. Vì vậy, khi áp dụng điều luật, cần tách bạch rõ: quyền nào thuộc về chính người biểu diễn, quyền nào thuộc về chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn.

Phân biệt đúng chủ thể để tránh nhầm lẫn

Điểm mấu chốt của khoản 1 là không phải mọi trường hợp người biểu diễn đều đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn. Nếu người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu, họ chỉ nắm các quyền nhân thân theo khoản 2; còn quyền tài sản thuộc về chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn theo khoản 3. Đây là điểm rất dễ bị hiểu nhầm trong thực tế, nhất là khi hợp đồng biểu diễn, hợp đồng sản xuất bản ghi âm, ghi hình hoặc hợp đồng đặt hàng có điều khoản phân chia quyền không rõ ràng.

Quyền nhân thân: không chỉ là nêu tên, mà còn là bảo vệ hình tượng

Quyền nhân thân theo khoản 2 có hai nội dung cốt lõi: được giới thiệu tên và được bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn. Quy định này không dừng ở việc ghi nhận danh tính người biểu diễn, mà còn ngăn chặn việc xuyên tạc, cắt xén, sửa đổi làm phương hại đến danh dự và uy tín. Trong xử lý vụ việc cụ thể, cần xem có hành vi làm biến dạng hình tượng biểu diễn đến mức gây ảnh hưởng tiêu cực hay không; chỉ sửa kỹ thuật thông thường, không làm phương hại danh dự, thường chưa đủ để cấu thành vi phạm quyền nhân thân.

Quyền tài sản: cơ chế xin phép là nguyên tắc

Khoản 3 trao cho chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn độc quyền định hình, sao chép, phát sóng, truyền đạt đến công chúng, phân phối, nhập khẩu để phân phối và cho thuê thương mại. Khoản 4 khẳng định nguyên tắc khai thác, sử dụng các quyền này phải được phép và phải trả tiền bản quyền hoặc lợi ích vật chất khác theo luật hoặc theo thỏa thuận. Do đó, việc sử dụng bản ghi biểu diễn trong truyền thông, nền tảng số, quảng cáo, truyền hình, phát hành đĩa hoặc dịch vụ phát trực tuyến không thể mặc nhiên coi là hợp pháp nếu chưa có căn cứ cho phép phù hợp.

Điều kiện để áp dụng: phải có hành vi khai thác thuộc phạm vi độc quyền

Muốn áp dụng Điều 29, cần xác định đồng thời ba yếu tố: có cuộc biểu diễn thuộc phạm vi bảo hộ; có hành vi khai thác rơi vào các quyền tài sản hoặc xâm phạm quyền nhân thân; và không thuộc ngoại lệ luật định. Nếu hành vi chỉ là sử dụng nội bộ, sao chép kỹ thuật tạm thời hoặc phân phối lần tiếp theo sau khi đã được chủ sở hữu cho phép phân phối, thì không còn là hành vi bị cấm theo khoản 5. Đây là điểm quan trọng để tránh đồng nhất mọi hành vi sao chép hay truyền dẫn với hành vi xâm phạm.

Ngoại lệ và hiểu đúng về giới hạn quyền

Khoản 5 cho thấy quyền của chủ sở hữu không phải tuyệt đối. Một số sao chép kỹ thuật tạm thời, sao chép chỉ nhằm thực hiện quyền khác, hoặc phân phối lần tiếp theo sau khi đã đưa ra thị trường hợp pháp, không bị coi là hành vi có thể ngăn cấm. Cách hiểu đúng là luật thừa nhận nhu cầu vận hành của công nghệ và nguyên tắc “cạn quyền” đối với một số trường hợp đã phân phối hợp pháp, chứ không phải mở rộng tự do sử dụng toàn diện cuộc biểu diễn.

Lưu ý thực tiễn khi xử lý tranh chấp

Khi đánh giá một tranh chấp, cần ưu tiên kiểm tra hợp đồng giữa người biểu diễn, nhà sản xuất và bên khai thác, vì quyền tài sản thường được chuyển giao hoặc cho phép khai thác bằng thỏa thuận. Đồng thời, phải xem hành vi bị phản đối là sử dụng cuộc biểu diễn chưa được định hình hay đã định hình, sử dụng nguyên vẹn hay đã cắt ghép, và việc sử dụng có đi kèm trả tiền, xin phép hay không. Trong nhiều vụ việc, mấu chốt không nằm ở việc có “sử dụng” hay không, mà nằm ở việc sử dụng đó có đúng phạm vi quyền đã được cấp phép và có xâm phạm hình tượng biểu diễn hay không.

Hiểu sai thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần có tên người biểu diễn xuất hiện thì mọi việc sử dụng đều hợp pháp. Thực tế, ghi tên chỉ mới đáp ứng một phần quyền nhân thân, còn quyền tài sản vẫn phải được kiểm tra riêng. Nhầm lẫn thứ hai là coi mọi bản ghi đã công bố đều có thể tự do khai thác; điều này không đúng nếu chủ sở hữu chưa cho phép hoặc việc khai thác vượt quá phạm vi ngoại lệ mà luật cho phép.

Người biểu diễn và chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn có luôn là một không?
Không. Nếu không đồng thời là chủ sở hữu, người biểu diễn chỉ giữ quyền nhân thân; quyền tài sản thuộc về chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn.
Chỉ cần ghi tên người biểu diễn là đủ để sử dụng bản ghi không?
Không. Ghi tên chỉ đáp ứng quyền nhân thân; việc khai thác bản ghi vẫn phải có căn cứ phép sử dụng và nghĩa vụ trả tiền nếu thuộc quyền tài sản.
Sửa, cắt một tiết mục biểu diễn có luôn vi phạm không?
Không phải mọi chỉnh sửa đều vi phạm. Chỉ khi sửa đổi, cắt xén hoặc xuyên tạc gây phương hại đến danh dự, uy tín và sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn.
Đăng lại bản ghi biểu diễn lên nền tảng số có cần xin phép không?
Có, nếu hành vi rơi vào các quyền tài sản như sao chép, truyền đạt đến công chúng hoặc cung cấp bản định hình cho công chúng.
Khi nào việc sao chép bản ghi biểu diễn không bị cấm?
Khi thuộc ngoại lệ luật định, như sao chép tạm thời phục vụ kỹ thuật, hoặc sao chép chỉ để thực hiện quyền khác theo Luật Sở hữu trí tuệ.
Mục lục văn bản