Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Giới hạn quyền tác giả[67]

Bình luận ngắn gọn về Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: trường hợp không phải xin phép, vẫn phải trả bản quyền và các giới hạn áp dụng.

Điều 26. Giới hạn quyền tác giả

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng[68] có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng[69] không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;

b) Trường hợp tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại thì tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình này trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.

2. Việc sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.

3a.[70] Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình thực hiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này theo quy định của Chính phủ.

4. Tổ chức, cá nhân Việt Nam hưởng ưu đãi dành cho các nước đang phát triển đối với quyền dịch tác phẩm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và quyền sao chép để giảng dạy, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại theo quy định tại các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

5. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Ý nghĩa của cơ chế “giới hạn quyền tác giả”

Điều 26 không phải là quy định “miễn trừ” tuyệt đối cho người sử dụng tác phẩm, mà là cơ chế ngoại lệ có điều kiện. Nhà làm luật cho phép khai thác một số tác phẩm đã công bố trong thực tiễn phát thanh, kinh doanh, thương mại và một số trường hợp đặc thù khác, nhưng vẫn giữ trụ cột là trả tiền bản quyền, ghi tên tác giả và nêu nguồn gốc, xuất xứ. Cách thiết kế này cho thấy mục tiêu cân bằng lợi ích: thúc đẩy lưu thông, sử dụng tác phẩm hợp pháp nhưng không triệt tiêu quyền khai thác kinh tế của chủ sở hữu.

Điều kiện để áp dụng đúng Điều 26

Muốn áp dụng Điều 26, trước hết phải xác định đối tượng là tác phẩm đã công bố. Nếu tác phẩm chưa công bố, Điều 26 không phải căn cứ hợp lệ để sử dụng. Tiếp theo, trường hợp sử dụng phải rơi đúng vào một trong các nhóm được luật liệt kê; ngoài phạm vi này thì vẫn phải xin phép như nguyên tắc chung của quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

Điều luật còn đặt ra giới hạn nội dung rất quan trọng: việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Đây là “hàng rào” để ngăn việc lợi dụng ngoại lệ nhằm thay thế thị trường khai thác tác phẩm hoặc làm giảm giá trị thương mại của tác phẩm.

Những điểm trọng tâm khi áp dụng

Khoản 1 của Điều 26 chia thành hai nhóm tình huống thực tiễn. Nhóm thứ nhất liên quan đến tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố hoặc tác phẩm đã được phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại; nhóm này phải trả tiền bản quyền từ khi sử dụng, còn mức tiền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì theo quy định của Chính phủ. Nhóm thứ hai là việc tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại; cũng áp dụng cơ chế không xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Chính phủ.

Điểm cần lưu ý là Điều 26 không đương nhiên cho phép sử dụng mọi bản ghi âm, ghi hình. Luật chỉ mở ngoại lệ khi bản ghi âm, ghi hình đó đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình và đã công bố nhằm mục đích thương mại. Trường hợp không đáp ứng đúng điều kiện này thì không được áp dụng cơ chế “không xin phép nhưng phải trả tiền”.

Các nhầm lẫn thường gặp

Nhiều chủ thể hiểu sai rằng “không phải xin phép” đồng nghĩa với “được dùng tự do”. Thực tế, Điều 26 vẫn buộc phải trả bản quyền và tuân thủ các giới hạn về ghi nhận tác giả, nguồn gốc, cũng như không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm. Một nhầm lẫn khác là áp dụng cơ chế này cho tác phẩm điện ảnh; khoản 3 của Điều 26 loại trừ rõ ràng tác phẩm điện ảnh khỏi phạm vi áp dụng.

Trong thực tiễn, cũng thường nhầm giữa sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp với sử dụng trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo nghĩa của Điều 26. Không phải mọi việc “dùng trong công ty” đều tự động rơi vào ngoại lệ; cần đối chiếu đúng bản chất khai thác, mục đích sử dụng và loại hình tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình liên quan.

Lưu ý thực tiễn

Với tổ chức phát sóng, nghĩa vụ trả tiền bản quyền phát sinh kể từ khi sử dụng, không phải chờ đến khi có tranh chấp mới thực hiện. Với các bên khai thác bản ghi âm, ghi hình trong môi trường thương mại, nên thỏa thuận bằng văn bản về mức trả, phương thức thanh toán và phạm vi sử dụng để tránh tranh chấp về sau. Khi không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả hoặc không tìm được chủ sở hữu, không được tự ý suy diễn quyền sử dụng; phải xử lý theo cơ chế do Chính phủ quy định.

Khoản 4 và khoản 5 của Điều 26 cho thấy đây là điều khoản có tính mở, giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết cho các nhóm trường hợp đặc thù, gồm ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và việc khai thác tác phẩm của tổ chức, cá nhân Việt Nam khi không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, khi áp dụng vào tình huống cụ thể, cần đọc Điều 26 cùng văn bản hướng dẫn thi hành, thay vì chỉ dựa vào câu chữ của điều luật.

Điều 26 có cho phép dùng tác phẩm mà không cần xin phép không?
Có, nhưng chỉ trong các trường hợp luật liệt kê và vẫn phải trả tiền bản quyền, ghi tên tác giả, nêu nguồn gốc, xuất xứ.
Điều 26 có áp dụng cho tác phẩm điện ảnh không?
Không. Khoản 3 Điều 26 loại trừ rõ tác phẩm điện ảnh khỏi phạm vi áp dụng.
Dùng tác phẩm trong hoạt động kinh doanh có phải trả tiền không?
Có, nếu rơi vào trường hợp tại khoản 1 Điều 26 thì phải trả bản quyền từ khi sử dụng, theo thỏa thuận hoặc quy định của Chính phủ.
Không tìm được chủ sở hữu quyền tác giả thì có được tự dùng không?
Không được tự ý sử dụng. Trường hợp này phải thực hiện theo quy định của Chính phủ tại khoản 5 Điều 26.
Điều 26 khác gì với nguyên tắc xin phép sử dụng tác phẩm?
Điều 26 là ngoại lệ có điều kiện, chỉ áp dụng cho trường hợp luật cho phép; ngoài phạm vi đó vẫn phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.
Mục lục văn bản