Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu[63]
Bình luận Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, sân khấu, phân định quyền nhân thân và quyền tài sản.
Điều 21. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
1. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định như sau:
a) Biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này;
b) Quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, kỹ xảo, diễn viên điện ảnh và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng quyền quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;
c) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản; có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) theo hợp đồng với những người quy định tại điểm a và điểm b khoản này;
d) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh có thể thỏa thuận với những người quy định tại điểm a khoản này về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm;
đ) Trường hợp kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của kịch bản, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với kịch bản, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
2. Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu được quy định như sau:
a) Tác giả kịch bản sân khấu được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này;
b) Tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng quyền quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;
c) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản; có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) theo hợp đồng với những người quy định tại điểm a và điểm b khoản này;
d) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu có thể thỏa thuận với những người quy định tại điểm a khoản này về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm;
đ) Trường hợp tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm sân khấu được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
Ý nghĩa của quy định
Điều 21 thể hiện cách tiếp cận rất đặc thù của pháp luật sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm có tính cộng tác cao. Với điện ảnh và sân khấu, tác phẩm không chỉ là sản phẩm của một cá nhân mà là kết quả của nhiều chủ thể tham gia ở các mức độ khác nhau, từ sáng tạo nội dung đến đầu tư tổ chức sản xuất. Vì vậy, điều luật này không gộp mọi quyền vào một người, mà tách rõ quyền nhân thân, quyền tài sản và quyền của từng người tham gia theo vai trò thực tế.
Trọng tâm của điều luật là bảo đảm vừa tôn trọng đóng góp sáng tạo cá nhân, vừa bảo vệ quyền khai thác kinh tế của chủ thể đầu tư. Cách thiết kế này giúp hạn chế tranh chấp về công sức sáng tạo, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc thương mại hóa tác phẩm một cách ổn định.
Điện ảnh: nhiều chủ thể, nhiều tầng quyền
Đối với tác phẩm điện ảnh, biên kịch và đạo diễn được hưởng đầy đủ các quyền nhân thân cốt lõi theo khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. Điều đó phản ánh vai trò trung tâm của họ trong việc hình thành bản chất sáng tạo của tác phẩm. Các cá nhân thực hiện công việc sáng tạo khác như quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, âm thanh, ánh sáng, kỹ xảo, diễn viên điện ảnh... được bảo hộ quyền nhân thân ở phạm vi tương ứng theo khoản 2 Điều 19.
Chủ thể đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật là chủ sở hữu các quyền tài sản theo khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20, trừ khi có thỏa thuận khác bằng văn bản. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý: luật mặc định giao quyền khai thác kinh tế cho bên đầu tư, nhưng không làm mất đi quyền nhân thân của tác giả. Nhiều tranh chấp phát sinh khi hợp đồng không ghi rõ việc chuyển giao, thời hạn khai thác, phạm vi sử dụng, hoặc quyền chỉnh sửa, đặt tên tác phẩm.
Quy định về việc kịch bản, âm nhạc được sử dụng độc lập là một cơ chế bảo lưu quyền rất quan trọng. Nếu kịch bản hoặc tác phẩm âm nhạc sau đó được khai thác riêng ngoài bộ phim, tác giả hoặc chủ sở hữu của chính kịch bản, âm nhạc đó vẫn có quyền độc lập đối với phần tác phẩm của mình, trừ khi đã có thỏa thuận bằng văn bản khác. Nhầm lẫn thường gặp là cho rằng khi đã đưa vào phim thì mọi quyền đối với kịch bản, nhạc nền đều “hòa tan” vào tác phẩm điện ảnh; thực ra, điều luật không cho phép suy diễn như vậy.
Sân khấu: logic tương tự nhưng chủ thể sáng tạo khác
Với tác phẩm sân khấu, điều luật áp dụng cùng một cấu trúc phân quyền nhưng điều chỉnh theo đặc thù biểu diễn. Tác giả kịch bản sân khấu được hưởng đầy đủ quyền nhân thân theo Điều 19; các chủ thể sáng tạo khác như tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và người làm công việc sáng tạo khác được bảo hộ ở phạm vi quyền nhân thân tương ứng. Cách quy định này cho thấy tác phẩm sân khấu được nhìn nhận như một chỉnh thể nghệ thuật có nhiều lớp sáng tạo chứ không chỉ là kịch bản.
Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu mặc nhiên là chủ sở hữu quyền tài sản, nếu không có thỏa thuận khác bằng văn bản. Điểm mấu chốt khi áp dụng là phải xác định đúng bên đầu tư, đúng hợp đồng và đúng phạm vi quyền được khai thác. Nếu thiếu thỏa thuận rõ ràng, tranh chấp thường xoay quanh doanh thu biểu diễn, quyền ghi hình, quyền phát sóng và quyền sửa đổi dàn dựng.
Điều kiện áp dụng và điểm dễ hiểu sai
Điều 21 chỉ được kích hoạt khi có một tác phẩm điện ảnh hoặc sân khấu đã được hình thành trên cơ sở tham gia sáng tạo và/hoặc đầu tư theo đúng vai trò luật định. Không phải bất kỳ người nào tham gia vào quá trình sản xuất đều là đồng tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Người thực hiện công việc thuần túy kỹ thuật, lao động phục vụ hoặc tổ chức hành chính không tự động được hưởng quyền tác giả nếu không có yếu tố sáng tạo.
Hiểu sai phổ biến khác là đồng nhất “đầu tư” với “sáng tạo”. Điều luật tách bạch rất rõ: nhà đầu tư thường nắm quyền tài sản, còn người sáng tạo nắm quyền nhân thân. Muốn thay đổi mặc định này phải có thỏa thuận bằng văn bản; nếu không có văn bản, khó có cơ sở để suy luận rằng quyền đã được chuyển giao theo ý chí ngầm định.
Trong thực tiễn, giá trị lớn nhất của Điều 21 là nhắc các bên phải chuẩn hóa hợp đồng ngay từ đầu. Phạm vi sử dụng, quyền chỉnh sửa, quyền đặt tên, quyền khai thác độc lập đối với kịch bản hoặc âm nhạc, và nghĩa vụ trả nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác cần được ghi nhận rõ. Làm được điều đó sẽ giảm đáng kể rủi ro tranh chấp sau khi tác phẩm đi vào khai thác thương mại.
Lưu ý thực tiễn
- Ưu tiên xác định đúng ba nhóm quan hệ: người sáng tạo, người đầu tư, và tác phẩm được sử dụng độc lập.
- Mọi thỏa thuận làm thay đổi mặc định của luật nên lập thành văn bản.
- Không suy diễn việc giao kinh phí sản xuất đồng nghĩa với việc chuyển toàn bộ quyền tác giả.
- Khi khai thác riêng kịch bản hoặc âm nhạc, phải kiểm tra lại quyền độc lập của chính phần tác phẩm đó.