Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Giám định về sở hữu trí tuệ[347]

Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: điều kiện giám định, giá trị chứng cứ và lưu ý thực tiễn.

Điều 201. Giám định về sở hữu trí tuệ

1.[348] Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Việc giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.

1a.[349] Giám định về sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan;

b) Giám định về quyền sở hữu công nghiệp;

c) Giám định về quyền đối với giống cây trồng.

2.[350] Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này.

2a.[351] Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ.

3. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:

a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Thường trú tại Việt Nam;

c) Có phẩm chất đạo đức tốt;

d)[352] Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định;

đ)[353] Thuộc một trong các trường hợp sau: đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ từ đủ năm năm trở lên và được chứng nhận đạt yêu cầu khóa đào tạo nghiệp vụ về giám định sở hữu trí tuệ; trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa án và tổ chức trọng tài từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá hai năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ; trực tiếp tham gia hỗ trợ chuyên môn trong công tác giám định về sở hữu trí tuệ tại tổ chức giám định từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá hai năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

3a.[354] Trường hợp người được cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ không còn đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 3 Điều này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

4.[355] Nguyên tắc thực hiện giám định bao gồm:

a) Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định;

b) Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời;

c) Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định;

đ) Chi phí giám định được xác định theo thỏa thuận giữa người có yêu cầu giám định và tổ chức, cá nhân giám định.

5.[356] Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý. Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.

6. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.

Vai trò của giám định sở hữu trí tuệ

Điều 201 được thiết kế để “chuyên môn hóa” việc làm rõ các vấn đề khó chứng minh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, như yếu tố tương tự, phạm vi bảo hộ, dấu hiệu xâm phạm hoặc tính nguyên gốc của đối tượng quyền. Đây là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chủ thể quyền và cơ quan xử lý vụ việc, nhất là khi tranh chấp có tính kỹ thuật cao.

Nhà làm luật không coi giám định là một thủ tục hình thức, mà là một phương thức cung cấp căn cứ chuyên môn độc lập. Vì vậy, giá trị của điều luật nằm ở khả năng chuyển hóa tranh luận kỹ thuật thành kết luận chuyên môn có thể sử dụng trong tố tụng và xử lý vi phạm.

Điều kiện để áp dụng

Để hoạt động giám định được thực hiện hợp lệ, phải có chủ thể giám định đủ điều kiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ. Ở cấp cá nhân, trọng tâm là quốc tịch Việt Nam, năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thường trú tại Việt Nam, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn phù hợp và kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng một trong các ngưỡng luật định.

Ở cấp tổ chức, chỉ doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức hành nghề luật sư đáp ứng điều kiện về nhân sự giám định mới được thực hiện hoạt động này. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam bị loại trừ rõ ràng để bảo đảm tính kiểm soát và phù hợp với cơ chế hành nghề trong nước.

Điểm cần nắm khi sử dụng kết luận giám định

Kết luận giám định không phải là phán quyết về xâm phạm hay tranh chấp. Theo khoản 5 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ, kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ, còn việc đánh giá cuối cùng thuộc về cơ quan có thẩm quyền.

Đây là điểm dễ bị hiểu sai trong thực tiễn. Nhiều trường hợp đương sự xem kết luận giám định như “kết luận thắng thua” của vụ việc, trong khi giá trị pháp lý đúng của nó chỉ dừng ở mức chứng cứ chuyên môn để hỗ trợ xem xét, đối chiếu cùng các tài liệu khác.

Nguyên tắc giám định

Điều luật đặt ra các nguyên tắc mang tính bắt buộc: tuân thủ pháp luật, trung thực, khách quan, chỉ kết luận trong phạm vi được yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định. Đây là hàng rào bảo đảm tính độc lập của hoạt động giám định, đồng thời ngăn ngừa tình trạng lạm dụng giám định để “đi trước” kết luận của cơ quan giải quyết vụ việc.

Chi phí giám định được xác định theo thỏa thuận giữa người yêu cầu và tổ chức, cá nhân giám định. Do đó, khi thực tiễn phát sinh tranh chấp về chi phí, cần tách bạch giữa nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận và giá trị chứng minh của chính kết luận giám định.

Lưu ý thực tiễn

Người yêu cầu giám định cần xác định đúng phạm vi câu hỏi chuyên môn trước khi nộp yêu cầu, vì giám định viên chỉ được kết luận trong giới hạn được hỏi. Nếu câu hỏi vượt quá chuyên môn hoặc đòi hỏi đánh giá pháp lý cuối cùng, kết luận giám định sẽ không giải quyết được bản chất vụ việc.

Trong tranh chấp sở hữu trí tuệ, giám định hữu ích nhất khi cần chứng minh yếu tố kỹ thuật, mức độ tương tự, phạm vi bảo hộ hoặc tính nguyên gốc. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền hiệu quả, kết luận giám định phải được đặt trong tổng thể chứng cứ khác, thay vì sử dụng đơn lẻ như căn cứ quyết định toàn bộ vụ việc.

Những nhầm lẫn thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là coi mọi kết luận chuyên môn đều đủ sức xác lập hành vi xâm phạm. Thực tế, hành vi xâm phạm chỉ được cơ quan có thẩm quyền xác định sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, chứng cứ và quy định pháp luật liên quan.

Nhầm lẫn thứ hai là đồng nhất giám định sở hữu trí tuệ với giám định tư pháp nói chung. Điều 201 cho thấy giám định sở hữu trí tuệ có phạm vi chuyên ngành riêng, nhưng khi phục vụ tố tụng thì vẫn phải tuân theo pháp luật về giám định tư pháp.

Ai có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ?
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân có liên quan đều có quyền yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Kết luận giám định có tự động chứng minh có xâm phạm không?
Không. Kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền mới là chủ thể quyết định có xâm phạm hay không.
Tổ chức nào được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ?
Chỉ doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức hành nghề luật sư đáp ứng điều kiện nhân sự theo luật mới được thực hiện hoạt động này.
Giám định viên sở hữu trí tuệ có phải là công dân Việt Nam không?
Có. Cá nhân được cấp thẻ phải là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và thường trú tại Việt Nam.
Giám định viên có được kết luận vượt quá yêu cầu không?
Không. Giám định viên chỉ được kết luận trong phạm vi chuyên môn của vấn đề được yêu cầu giám định.
Mục lục văn bản