Điều 190 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng[318]

Bình luận ngắn gọn Điều 190 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 về các ngoại lệ không xâm phạm quyền đối với giống cây trồng và nguyên tắc cạn kiệt quyền.

Điều 190. Hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng

1. Các hành vi sau đây không bị coi là xâm phạm quyền đối với giống cây trồng đã được bảo hộ:

a) Sử dụng giống cây trồng phục vụ nhu cầu cá nhân và phi thương mại;

b) Sử dụng giống cây trồng nhằm mục đích thử nghiệm;

c) Sử dụng giống cây trồng để tạo ra giống cây trồng khác, trừ trường hợp quy định tại Điều 187 của Luật này;

d) Hộ sản xuất cá thể sử dụng sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng để tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện tích đất của mình.

2. Quyền đối với giống cây trồng không được áp dụng đối với các hành vi liên quan đến vật liệu của giống cây trồng được bảo hộ do chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng bảo hộ cho phép bán hoặc bằng cách khác đưa ra thị trường Việt Nam hoặc thị trường nước ngoài, trừ các hành vi sau đây:

a) Liên quan đến việc nhân tiếp giống cây trồng đó;

b) Liên quan đến việc xuất khẩu các vật liệu của giống cây trồng có khả năng nhân giống vào những nước không bảo hộ các chi hoặc loài cây trồng đó, trừ trường hợp xuất khẩu vật liệu nhằm mục đích tiêu dùng.

Ý nghĩa của cơ chế giới hạn quyền

Điều 190 thể hiện nguyên tắc quyền sở hữu trí tuệ không mang tính tuyệt đối. Với giống cây trồng, pháp luật cho phép một số hành vi sử dụng nhất định không bị coi là xâm phạm để bảo đảm nhu cầu sinh hoạt, nghiên cứu và thực tiễn sản xuất nông nghiệp. Cách thiết kế này giúp bảo hộ quyền của chủ bằng nhưng không làm cản trở hoàn toàn việc tiếp cận và khai thác hợp lý nguồn giống.

Điểm cần nắm là điều luật này không xóa bỏ quyền của chủ bằng bảo hộ, mà chỉ xác định các ranh giới mà bên thứ ba được phép sử dụng mà không cần xin phép. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, vấn đề trọng tâm không phải là “có sử dụng giống hay không”, mà là “sử dụng đó có rơi đúng vào ngoại lệ của Điều 190 hay không”.

Các ngoại lệ cần hiểu đúng

Nhóm hành vi tại khoản 1 chủ yếu là các sử dụng phi thương mại hoặc phục vụ mục đích chính đáng, gồm sử dụng cho nhu cầu cá nhân, thử nghiệm, tạo giống mới, và trường hợp hộ sản xuất cá thể giữ lại sản phẩm thu hoạch để tự nhân giống trên diện tích đất của mình. Đây là những ngoại lệ mang tính thực tiễn cao, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ và hoạt động nghiên cứu chọn tạo giống.

Điểm dễ nhầm là “sử dụng để tạo ra giống cây trồng khác” không đồng nghĩa với việc được tự do khai thác mọi vật liệu của giống đã bảo hộ. Ngoại lệ này phải được đọc cùng với giới hạn tại Điều 187 Luật Sở hữu trí tuệ, tức là không được lợi dụng việc lai tạo, chọn lọc hay nhân giống để né tránh quyền của chủ bằng trong các trường hợp luật vẫn bảo hộ.

Quyền đã cạn kiệt nhưng chưa hoàn toàn

Khoản 2 thể hiện nguyên tắc cạn kiệt quyền sau khi vật liệu của giống cây trồng đã được đưa ra thị trường một cách hợp pháp bởi chủ bằng hoặc người được phép. Sau khi đã bán hoặc đưa ra thị trường, chủ bằng không thể tiếp tục kiểm soát mọi hành vi liên quan đến vật liệu đó như trước.

Tuy nhiên, nguyên tắc này không áp dụng đối với hành vi nhân tiếp giống hoặc xuất khẩu vật liệu có khả năng nhân giống sang nước không bảo hộ chi, loài cây trồng tương ứng, trừ trường hợp xuất khẩu để tiêu dùng. Đây là giới hạn rất quan trọng vì cho thấy pháp luật vẫn bảo vệ lõi kinh tế của quyền giống cây trồng là khả năng tái tạo và nhân rộng vật liệu di truyền.

Điều kiện áp dụng trên thực tế

Muốn áp dụng Điều 190, trước hết phải xác định đúng đối tượng là giống cây trồng đã được bảo hộ và vật liệu đang tranh chấp có phải là vật liệu của giống đó hay không. Tiếp theo, cần làm rõ mục đích sử dụng, quy mô khai thác, chủ thể thực hiện và việc vật liệu đã được đưa ra thị trường hợp pháp hay chưa.

Trong thực tiễn, chứng cứ về nguồn gốc vật liệu, mục đích sử dụng và hành vi nhân tiếp giống là các yếu tố then chốt. Nếu bên sử dụng không chứng minh được mình thuộc trường hợp ngoại lệ, họ sẽ khó tránh khỏi nguy cơ bị xem là xâm phạm quyền đối với giống cây trồng.

Lưu ý khi vận dụng

Không nên hiểu Điều 190 theo hướng “đã mua giống thì được làm gì cũng được”. Cái được bảo lưu là quyền sử dụng hợp lý, chứ không phải quyền thương mại hóa lại toàn bộ vật liệu giống đã mua.

Đối với hộ sản xuất cá thể, ngoại lệ chỉ gắn với việc tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện tích đất của mình, nên không thể mở rộng sang bán, trao đổi hoặc tổ chức nhân giống hàng hóa. Đây là ranh giới cần đặc biệt lưu ý để tránh nhầm lẫn giữa nhu cầu tái sản xuất trong hộ và hoạt động kinh doanh giống.

Với các dự án nghiên cứu, thử nghiệm hoặc lai tạo, cần tách bạch rõ mục đích khoa học với mục đích thương mại. Khi hoạt động đã chuyển sang khai thác thương mại vật liệu có khả năng nhân giống, việc viện dẫn ngoại lệ sẽ không còn phù hợp nếu vượt khỏi phạm vi mà điều luật cho phép.

Kết luận áp dụng

Điều 190 là điều khoản cân bằng lợi ích, vừa bảo đảm quyền độc quyền hợp pháp của chủ bằng, vừa tránh bó hẹp quá mức hoạt động nông nghiệp và nghiên cứu. Khi xử lý một tình huống cụ thể, trọng tâm phải là xác định đúng ngoại lệ, đúng phạm vi sử dụng và đúng bản chất của vật liệu giống. Đây là điều khoản cần đọc cùng các quy định về phạm vi quyền và hành vi xâm phạm để áp dụng chính xác.

Điều 190 có phải là miễn trừ tuyệt đối cho mọi hành vi sử dụng giống đã bảo hộ không?
Không. Điều 190 chỉ loại trừ một số hành vi nhất định khỏi hành vi xâm phạm, còn các hành vi ngoài phạm vi này vẫn có thể bị xử lý.
Mua giống hợp pháp rồi có được tự nhân giống để bán không?
Không mặc nhiên được. Quyền cạn kiệt sau khi đưa ra thị trường không bao gồm quyền nhân tiếp giống để kinh doanh.
Hộ sản xuất cá thể được giữ giống cho vụ sau đến mức nào?
Chỉ được tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện tích đất của mình, không được mở rộng thành hoạt động thương mại giống.
Dùng giống đã bảo hộ để lai tạo giống mới có cần xin phép không?
Nếu thuộc phạm vi tạo giống mới theo khoản 1 thì không bị coi là xâm phạm, nhưng phải tránh các giới hạn liên quan tại Điều 187 Luật Sở hữu trí tuệ.
Khi nào quyền của chủ bằng không còn kiểm soát việc lưu thông vật liệu giống?
Khi vật liệu đã được chủ bằng hoặc người được phép đưa ra thị trường hợp pháp, trừ các trường hợp nhân tiếp giống và xuất khẩu vật liệu có khả năng nhân giống theo khoản 2.
Mục lục văn bản