Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Bình luận Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 về phạm vi sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và lưu ý áp dụng.
Điều 124. Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Sử dụng sáng chế là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sản xuất sản phẩm được bảo hộ;
b) Áp dụng quy trình được bảo hộ;
c) Khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ;
d) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm c khoản này;
đ) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm c khoản này.
2. Sử dụng kiểu dáng công nghiệp là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) [244] Sản xuất sản phẩm hoặc một phần của sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
b) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm a khoản này;
c) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm a khoản này;
d)[245] Lưu thông bản sao kỹ thuật số của sản phẩm phi vật lý có hình dáng bên ngoài hoặc một phần hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
3. Sử dụng thiết kế bố trí là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép thiết kế bố trí; sản xuất mạch tích hợp bán dẫn theo thiết kế bố trí được bảo hộ;
b) Bán, cho thuê, quảng cáo, chào hàng hoặc tàng trữ các bản sao thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí được bảo hộ;
c) Nhập khẩu bản sao thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí được bảo hộ.
4. Sử dụng bí mật kinh doanh là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hóa;
b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.
5. Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
b)[246] Bán, chào bán, quảng cáo để bán, trưng bày để bán, tàng trữ để bán, vận chuyển hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.
6. Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.
7. Sử dụng chỉ dẫn địa lý là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.
Ý nghĩa của Điều 124
Điều 124 là điều khoản “định danh hành vi” trong pháp luật sở hữu công nghiệp. Nhà làm luật không mô tả theo cách khái quát mà liệt kê cụ thể từng nhóm hành vi đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Cách quy định này giúp xác định rõ khi nào một hành vi đã chạm đến quyền sở hữu công nghiệp để từ đó đánh giá tính hợp pháp, nhu cầu xin phép, cấp phép hoặc trách nhiệm xâm phạm.
Trọng tâm cần nắm khi áp dụng
Điều luật này không áp dụng một khuôn cho tất cả đối tượng, mà mỗi đối tượng có cấu thành “sử dụng” riêng. Với sáng chế, trọng tâm là sản xuất, áp dụng quy trình, khai thác công dụng và các hành vi thương mại hóa sản phẩm theo quy trình được bảo hộ. Với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, yếu tố then chốt là hành vi gắn dấu hiệu lên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh hoặc đưa hàng hóa mang dấu hiệu đó vào lưu thông, quảng cáo, nhập khẩu.
Riêng kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí, điều luật bao quát cả khâu sản xuất lẫn khâu lưu thông, nhập khẩu sản phẩm chứa đối tượng được bảo hộ. Đây là điểm rất quan trọng vì không chỉ người trực tiếp tạo ra sản phẩm mới bị xem xét, mà cả chủ thể thương mại hóa, phân phối, trưng bày hoặc nhập khẩu cũng có thể rơi vào phạm vi sử dụng. Đối với bí mật kinh doanh, “sử dụng” gắn với việc áp dụng bí mật đó vào sản xuất, kinh doanh hoặc đưa sản phẩm được tạo ra từ bí mật kinh doanh ra thị trường.
Điều kiện để kích hoạt việc áp dụng
Muốn áp dụng Điều 124, trước hết phải xác định đúng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ và phạm vi bảo hộ còn hiệu lực. Sau đó phải đối chiếu chính xác hành vi thực tế với từng điểm, từng khoản của điều luật; chỉ khi hành vi nằm trong danh mục được luật liệt kê thì mới có cơ sở kết luận là “sử dụng” theo nghĩa pháp lý. Trong thực tiễn, yếu tố mục đích thương mại và sự gắn kết với hàng hóa, dịch vụ là dấu hiệu rất quan trọng, đặc biệt đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
Những hiểu sai thường gặp
Hiểu sai phổ biến nhất là cho rằng chỉ có hành vi sản xuất mới bị coi là sử dụng. Thực tế, nhiều hành vi sau sản xuất như chào bán, quảng cáo, tàng trữ để bán, vận chuyển, nhập khẩu cũng đã đủ làm phát sinh việc sử dụng theo điều luật này. Một nhầm lẫn khác là đồng nhất mọi hành vi sử dụng với hành vi xâm phạm; trên thực tế, có trường hợp sử dụng hợp pháp khi được chủ sở hữu cho phép hoặc thuộc căn cứ pháp luật cho phép.
Cũng cần tránh hiểu rằng tên thương mại chỉ được bảo hộ khi đăng ký như nhãn hiệu. Tên thương mại được sử dụng trong hoạt động kinh doanh trên cơ sở khả năng phân biệt của chính tên đó và việc dùng tên ấy trong giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, quảng cáo đã là hành vi sử dụng theo quy định. Với nhãn hiệu, việc gắn dấu hiệu lên phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch hay bao bì hàng hóa đều có thể tạo thành hành vi sử dụng, không chỉ riêng việc in trên sản phẩm.
Lưu ý thực tiễn
Khi giải quyết một vụ việc, cần tách bạch ba lớp vấn đề: có đối tượng được bảo hộ hay không, có hành vi thuộc “sử dụng” theo Điều 124 hay không, và hành vi đó có được phép hay không. Nếu bỏ qua bước đầu tiên, rất dễ đánh giá sai cả tranh chấp lẫn chế tài. Điều 124 vì vậy là điều khoản nền tảng để đọc tiếp các quy định về căn cứ xác lập quyền, giới hạn quyền, chuyển giao quyền sử dụng và hành vi xâm phạm trong Luật Sở hữu trí tuệ.