Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Bình luận Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ về chủ sở hữu sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh và chỉ dẫn địa lý.
Điều 121. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
1.[240] Chủ sở hữu sáng chế, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp hoặc có kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng.
2. Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.
3. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
4.[241] Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước.
Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý.
Trọng tâm của Điều 121
Điều luật này là điểm xuất phát để xác định ai là chủ sở hữu hợp pháp của từng đối tượng sở hữu công nghiệp. Cách quy định theo từng nhóm đối tượng cho thấy pháp luật không dùng một tiêu chí chung, mà gắn quyền sở hữu với bản chất pháp lý riêng của sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh và chỉ dẫn địa lý.
Ý nghĩa thực tiễn của điều này là: muốn xác lập, chuyển giao, khai thác hay bảo vệ quyền thì trước hết phải xác định đúng chủ sở hữu. Sai ngay từ khâu nhận diện chủ thể sẽ dẫn đến sai toàn bộ các giao dịch, hồ sơ đăng ký, yêu cầu xử lý xâm phạm hoặc thỏa thuận khai thác quyền.
Cách xác định chủ sở hữu theo từng đối tượng
1. Đối tượng có văn bằng bảo hộ
Với sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, căn cứ trung tâm là việc được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận theo cơ chế đăng ký quốc tế, trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng còn có cơ sở từ chính sự nổi tiếng được thừa nhận. Đây là nhóm quyền thể hiện rõ tính “xác lập theo thủ tục” và đòi hỏi chứng cứ pháp lý về văn bằng hoặc tình trạng pháp lý tương đương.
Điều này cũng cho thấy người sáng tạo ra đối tượng chưa chắc là chủ sở hữu nếu quyền đăng ký hoặc quyền nộp đơn thuộc về tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên.
2. Tên thương mại và bí mật kinh doanh
Chủ sở hữu tên thương mại là người sử dụng hợp pháp tên đó trong hoạt động kinh doanh, tức quyền phát sinh từ việc sử dụng hợp pháp, không phụ thuộc vào văn bằng. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là người có được bí mật một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật, nên yếu tố quyết định không chỉ là nguồn gốc chiếm hữu mà còn là biện pháp giữ bí mật thực tế.
Đặc biệt, bí mật kinh doanh do người lao động hoặc người được giao nhiệm vụ tạo ra trong quá trình thực hiện công việc thì mặc nhiên thuộc về bên thuê hoặc bên giao việc, trừ khi có thỏa thuận khác. Đây là quy tắc rất quan trọng trong hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ và hợp đồng nghiên cứu phát triển.
3. Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc sở hữu của Nhà nước, không thuộc về doanh nghiệp hay hiệp hội sản xuất. Nhà nước chỉ trao quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện sản xuất tại khu vực địa lý tương ứng và đồng thời tổ chức quản lý việc sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa chủ sở hữu và người được quyền sử dụng. Người sản xuất được cấp quyền sử dụng không đương nhiên có quyền định đoạt chỉ dẫn địa lý như một tài sản riêng.
Điều kiện để áp dụng đúng
Muốn áp dụng Điều 121, trước hết phải xác định đúng loại đối tượng sở hữu công nghiệp. Sau đó cần kiểm tra căn cứ xác lập quyền: văn bằng bảo hộ, đăng ký quốc tế được công nhận, việc sử dụng hợp pháp, nguồn gốc hợp pháp của bí mật kinh doanh hoặc tình trạng chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước.
Trong tranh chấp, chứng cứ quan trọng nhất thường là hồ sơ đăng ký, văn bằng bảo hộ, tài liệu chứng minh thời điểm và phạm vi sử dụng, tài liệu nội bộ về phân công nhiệm vụ, hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận chuyển giao quyền.
Lỗi hiểu sai thường gặp
- Cho rằng người trực tiếp tạo ra sáng chế hay nhãn hiệu luôn là chủ sở hữu.
- Nhầm quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý với quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý.
- Cho rằng tên thương mại phải đăng ký mới được bảo hộ.
- Bỏ qua quy tắc mặc định về bí mật kinh doanh do người lao động tạo ra trong khi làm việc.
Lưu ý khi áp dụng
Điều 121 thường phải được đọc cùng quy định về xác lập quyền, chuyển giao quyền và phạm vi quyền của chủ sở hữu. Trong thực tiễn doanh nghiệp, nội dung này cần được phản ánh rõ trong hợp đồng lao động, hợp đồng nghiên cứu, hợp đồng chuyển giao công nghệ và hồ sơ quản trị tài sản trí tuệ.
Muốn tránh tranh chấp, cần xác định ngay từ đầu ai là chủ thể nộp đơn, ai là chủ sở hữu cuối cùng và ai chỉ là người sử dụng hoặc người được giao quản lý quyền. Đây là điều khoản nền tảng để “định danh” quyền sở hữu công nghiệp trước khi khai thác hoặc bảo vệ nó.