Điều 179 Luật nhà ở 2023: Góp vốn bằng nhà ở

Bình luận ngắn gọn Điều 179 Luật Nhà ở 2023 về góp vốn bằng nhà ở: điều kiện, sở hữu chung, nhà đang cho thuê và lưu ý áp dụng.

Điều 179. Góp vốn bằng nhà ở

1. Điều kiện góp vốn bằng nhà ở được quy định như sau:

a) Chủ sở hữu nhà ở hoặc chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại có quyền góp vốn bằng nhà ở để tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm kinh doanh tại nhà ở đó. Việc góp vốn bằng nhà ở phải thông qua hợp đồng có nội dung theo quy định tại Điều 163 của Luật này;

b) Nhà ở đưa vào góp vốn phải là nhà ở có sẵn và đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 160 của Luật này.

2. Việc góp vốn bằng nhà ở thuộc sở hữu chung được quy định như sau:

a) Việc góp vốn bằng nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất;

b) Trường hợp góp vốn bằng nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần thì chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần chỉ được góp vốn bằng phần nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình.

3. Việc góp vốn bằng nhà ở đang cho thuê được quy định như sau:

a) Chủ sở hữu nhà ở đang cho thuê phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết trước ít nhất 30 ngày về việc góp vốn bằng nhà ở;

b) Bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê nhà ở đến hết thời hạn hợp đồng thuê nhà ở đã ký với bên góp vốn, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Việc góp vốn bằng nhà ở trong trường hợp khác thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Ý nghĩa của quy định

Điều 179 đặt ra cơ chế “lọc đầu vào” đối với việc góp vốn bằng nhà ở, tránh tình trạng dùng tài sản chưa đủ điều kiện pháp lý để tham gia kinh doanh. Tư duy lập pháp ở đây là bảo vệ tính an toàn của giao dịch, đồng thời giữ cân bằng giữa quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu với quyền lợi của người đồng sở hữu và bên thuê.

So với các giao dịch thông thường, góp vốn bằng nhà ở có rủi ro cao hơn vì tài sản được dùng để tạo lập phần vốn góp và làm nền cho quan hệ kinh doanh. Do đó, luật yêu cầu chặt về chủ thể có quyền, tình trạng pháp lý của nhà ở và hình thức hợp đồng.

Điều kiện để được góp vốn

Điểm mấu chốt là nhà ở phải là nhà ở có sẵn và đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 160 Luật Nhà ở 2023. Nghĩa là không thể lấy nhà ở chưa đủ điều kiện pháp lý, đang tranh chấp, bị kê biên, bị hạn chế quyền định đoạt hoặc chưa bảo đảm hồ sơ pháp lý để đem đi góp vốn.

Chủ thể được góp vốn là chủ sở hữu nhà ở hoặc chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại trong phạm vi pháp luật cho phép. Việc góp vốn phải được lập thành hợp đồng có nội dung theo Điều 163 Luật Nhà ở 2023, nên thỏa thuận miệng hoặc giấy tay không đáp ứng yêu cầu pháp lý của giao dịch này.

Nhà ở thuộc sở hữu chung: điểm dễ nhầm lẫn

Đối với sở hữu chung hợp nhất, cần có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các đồng chủ sở hữu. Đây là điểm thường bị bỏ qua trong thực tế; chỉ một người tự ý ký hợp đồng góp vốn là giao dịch có nguy cơ vô hiệu vì vượt quá quyền định đoạt.

Đối với sở hữu chung theo phần, mỗi chủ sở hữu chỉ được góp vốn trong phạm vi phần quyền sở hữu của mình. Không được “mang cả căn nhà” đi góp vốn khi mình chỉ sở hữu một phần, trừ khi có căn cứ pháp lý khác làm thay đổi phạm vi quyền định đoạt.

Nhà ở đang cho thuê: phải tôn trọng hợp đồng thuê

Luật không cấm góp vốn bằng nhà ở đang cho thuê, nhưng buộc chủ sở hữu phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê trước ít nhất 30 ngày. Quy định này nhằm ngăn việc chuyển dịch tài sản đột ngột làm ảnh hưởng quyền sử dụng ổn định của bên thuê.

Bên thuê được tiếp tục thuê đến hết thời hạn hợp đồng đã ký, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Vì vậy, việc góp vốn không tự động làm chấm dứt hợp đồng thuê; bên nhận góp vốn phải chấp nhận tình trạng pháp lý đang tồn tại trên tài sản.

Lưu ý thực tiễn khi áp dụng

Không ít trường hợp nhầm lẫn giữa quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất gắn với nhà ở. Khi góp vốn bằng nhà ở, cần kiểm tra đầy đủ hồ sơ để bảo đảm giao dịch phản ánh đúng tài sản được đưa vào góp vốn và đúng quyền của người ký kết.

Với các trường hợp không thuộc cấu trúc cơ bản nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 179, giao dịch phải quay về áp dụng pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan. Điều này cho thấy Điều 179 không phải quy định “mở”, mà là quy định dẫn chiếu, chỉ cho phép góp vốn khi đã qua đủ các lớp điều kiện pháp lý cần thiết.

Kết luận thực hành: muốn góp vốn bằng nhà ở hợp pháp phải kiểm tra đồng thời ba lớp: tư cách của người góp vốn, tình trạng pháp lý của nhà ở, và quyền của bên thứ ba đang gắn với nhà ở. Thiếu một trong ba yếu tố này, giao dịch rất dễ phát sinh rủi ro vô hiệu hoặc tranh chấp.

Nhà ở chưa có sổ đỏ có được góp vốn không?
Không, trừ trường hợp pháp luật có quy định ngoại lệ; nguyên tắc là nhà ở góp vốn phải đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 160 Luật Nhà ở 2023.
Một đồng sở hữu tự ý góp vốn bằng nhà ở chung có hợp pháp không?
Không, nếu là sở hữu chung hợp nhất thì phải có văn bản đồng ý của tất cả đồng chủ sở hữu; nếu là sở hữu chung theo phần thì chỉ được góp vốn trong phần sở hữu của mình.
Đang cho thuê nhà thì có được đem đi góp vốn không?
Được, nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê trước ít nhất 30 ngày và tôn trọng thời hạn thuê đã ký, trừ khi có thỏa thuận khác.
Có bắt buộc lập hợp đồng khi góp vốn bằng nhà ở không?
Có, giao dịch phải được lập bằng hợp đồng có nội dung theo Điều 163 Luật Nhà ở 2023.
Chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại có được góp vốn bằng nhà ở không?
Có, nhưng chỉ trong phạm vi pháp luật cho phép và với nhà ở đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý theo Điều 179 Luật Nhà ở 2023.
Mục lục văn bản