Điều 161 Luật nhà ở 2023: Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở
Bình luận Điều 161 Luật Nhà ở 2023 về điều kiện chủ thể tham gia giao dịch nhà ở, trọng tâm áp dụng và các hiểu lầm thường gặp.
Điều 161. Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở
1. Bên bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở phải đáp ứng điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật về dân sự.
2. Bên mua, thuê mua, thuê nhà ở, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế, nhận thế chấp, nhận góp vốn, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý nhà ở là cá nhân phải đáp ứng điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật về dân sự và thực hiện theo quy định sau đây:
a) Nếu là cá nhân trong nước thì không bắt buộc phải có đăng ký cư trú tại nơi có nhà ở được giao dịch;
b) Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký cư trú tại nơi có nhà ở được giao dịch. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn phải tuân thủ quy định của Luật Đất đai.
3. Bên mua, thuê mua, thuê nhà ở, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế, nhận thế chấp, nhận góp vốn, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý nhà ở là tổ chức thì phải đáp ứng điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật về dân sự và không phụ thuộc vào nơi đăng ký kinh doanh, nơi thành lập; trường hợp là tổ chức nước ngoài thì còn phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này; nếu tổ chức được ủy quyền quản lý nhà ở thì còn phải có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản và đang hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.
Trọng tâm của điều luật
Điều 161 hướng tới việc lọc chủ thể trước khi xem xét giao dịch nhà ở. Nhà làm luật không chỉ quan tâm nhà ở đó có được phép giao dịch hay không, mà còn xác định ai là người được tham gia giao dịch và trong phạm vi nào. Cách thiết kế này giúp hạn chế giao dịch vô hiệu do sai chủ thể, đồng thời tạo cơ sở kiểm soát hoạt động mua bán, thuê mua, tặng cho, thế chấp, góp vốn và các giao dịch khai thác nhà ở khác.
Điểm cốt lõi là điều luật chia chủ thể thành nhiều lớp: bên chuyển giao, bên nhận giao dịch là cá nhân, và bên nhận giao dịch là tổ chức. Mỗi lớp có tiêu chuẩn riêng, nhưng đều phải thỏa điều kiện chung về năng lực chủ thể theo pháp luật dân sự. Vì vậy, muốn áp dụng đúng Điều 161, không thể chỉ đọc Luật Nhà ở mà phải kiểm tra thêm quy định của Bộ luật Dân sự về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và tư cách đại diện.
Điều kiện kích hoạt áp dụng
Điều luật này được áp dụng khi phát sinh một giao dịch liên quan đến nhà ở thuộc một trong các quan hệ được liệt kê. Chỉ cần giao dịch có đối tượng là nhà ở và có chủ thể tham gia ở vị trí bên bán, bên mua, bên cho thuê, bên thuê, bên tặng cho, nhận thừa kế, nhận thế chấp, nhận góp vốn, mượn, ở nhờ hoặc được ủy quyền quản lý, thì phải rà soát điều kiện chủ thể theo Điều 161. Đây là bước kiểm tra đầu vào bắt buộc trước khi xem xét hiệu lực của giao dịch.
Với cá nhân trong nước, điều luật loại bỏ hiểu lầm phổ biến rằng phải đăng ký cư trú tại nơi có nhà ở thì mới được giao dịch. Với cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, điều kiện quyết định không nằm ở nơi cư trú, mà ở việc họ có thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay không. Riêng người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn phải đối chiếu thêm quy định của Luật Đất đai khi giao dịch gắn với quyền sử dụng đất.
Điểm cần tránh hiểu sai
Một nhầm lẫn thường gặp là đồng nhất điều kiện chủ thể với điều kiện được cấp giấy hoặc điều kiện đăng ký cư trú. Điều 161 cho thấy cư trú chỉ không phải là tiêu chí bắt buộc trong nhiều trường hợp, chứ không làm mất đi yêu cầu về năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Do đó, một người có hộ khẩu hay chỗ ở hợp lệ vẫn có thể không đủ điều kiện nếu thuộc nhóm bị hạn chế theo pháp luật chuyên ngành hoặc không đủ tư cách đại diện.
Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng tổ chức chỉ cần có tư cách pháp nhân thì đương nhiên được tham gia mọi giao dịch nhà ở. Thực tế, tổ chức nước ngoài chỉ được giao dịch khi thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; còn tổ chức được ủy quyền quản lý nhà ở phải có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản và đang hoạt động tại Việt Nam. Đây là điều kiện chuyên biệt, nhằm bảo đảm tính hợp pháp và khả năng thực hiện giao dịch trong thực tiễn.
Giá trị áp dụng thực tiễn
Trong hồ sơ giao dịch, điều cần kiểm tra đầu tiên không phải là giá hay hiện trạng nhà ở, mà là tư cách của các bên. Nếu bỏ qua bước này, hợp đồng có nguy cơ bị tranh chấp do chủ thể không đủ điều kiện hoặc giao dịch vượt quá phạm vi pháp luật cho phép. Vì vậy, công chứng, chứng thực và thẩm định giao dịch nhà ở đều phải lấy Điều 161 làm tiêu chí sàng lọc ban đầu.
Ở góc độ thực hành, điều luật này có ý nghĩa như một “cửa kiểm soát” để bảo vệ an toàn pháp lý cho thị trường nhà ở. Người hành nghề cần luôn tách bạch ba lớp kiểm tra: điều kiện chủ thể, điều kiện của tài sản và điều kiện về hình thức giao dịch. Chỉ khi cả ba lớp đều đạt, giao dịch nhà ở mới có nền tảng pháp lý vững chắc.