Điều 15 Luật nhà ở 2023: Trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công
Bình luận Điều 15 Luật Nhà ở 2023 về thẩm quyền, trách nhiệm và lưu ý khi quản lý nhà ở thuộc tài sản công.
Điều 15. Trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công
1. Đối với nhà ở thuộc tài sản công được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Luật này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có trách nhiệm sau đây:
a) Quyết định đối tượng được thuê nhà ở công vụ, được thuê, chuyển quyền thuê, mua nhà ở thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 13 của Luật này; quyết định đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân; quyết định đối tượng được bố trí nhà ở phục vụ tái định cư;
b) Lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà ở, đơn vị bảo trì nhà ở;
c) Quyết định việc bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở; phê duyệt phương án di dời, cưỡng chế di dời, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí chỗ ở tạm thời theo thẩm quyền;
d) Ban hành hoặc quyết định giá thuê, giá thuê mua, giá bán nhà ở, miễn, giảm tiền thuê, tiền mua nhà ở;
đ) Quyết định chuyển đổi công năng nhà ở theo quy định tại Điều 124 của Luật này;
e) Quyết định việc sử dụng kinh phí thu được từ hoạt động kinh doanh đối với phần diện tích dùng để kinh doanh dịch vụ trong nhà ở phục vụ tái định cư nhằm hỗ trợ kinh phí bảo trì và công tác quản lý vận hành nhà ở này;
g) Quyết định thu hồi nhà ở, quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở;
h) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Đối với nhà ở thuộc tài sản công được đầu tư bằng nguồn vốn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 113 của Luật này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công thực hiện trách nhiệm quy định tại các điểm c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này.
3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có thể giao cho cơ quan quản lý nhà ở thực hiện việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành, đơn vị bảo trì nhà ở, quyết định việc bảo trì nhà ở. Đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an còn có thể giao cho cơ quan quản lý nhà ở thực hiện quyền quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà ở, đơn vị quản lý vận hành trong việc quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công.
Trọng tâm điều luật
Điều 15 không chỉ liệt kê nhiệm vụ quản lý nhà ở thuộc tài sản công, mà còn là quy định về phân quyền và quy trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời của tài sản nhà ở công. Tinh thần xuyên suốt là nhà ở công phải được quản lý tập trung, đúng mục đích, đúng đối tượng và có cơ chế kiểm soát rõ ràng đối với từng nhóm quyết định. Vì vậy, điều luật này là “điểm tựa thẩm quyền” để xác định cơ quan nào được quyết định, cơ quan nào chỉ được thực hiện theo ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ.
Phân tầng trách nhiệm theo nguồn vốn
Điểm đáng chú ý nhất của Điều 15 là trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu được thiết kế khác nhau theo nguồn vốn đầu tư. Với nhà ở thuộc tài sản công đầu tư bằng nguồn vốn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 Luật Nhà ở 2023, thẩm quyền rất rộng, bao gồm bố trí người sử dụng, lựa chọn đơn vị quản lý vận hành, quyết định bảo trì, cải tạo, phá dỡ, giá thuê, giá bán, thu hồi và cưỡng chế thu hồi. Với nhà ở đầu tư bằng nguồn vốn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 113 Luật Nhà ở 2023, phạm vi trách nhiệm hẹp hơn, tập trung vào các quyết định liên quan đến bảo trì, chuyển đổi công năng, sử dụng kinh phí từ hoạt động kinh doanh, thu hồi và cưỡng chế thu hồi.
Ý nghĩa quản trị tài sản công
Quy định này phản ánh quan điểm quản lý tài sản công theo hướng tách bạch giữa quyền sở hữu và hoạt động quản lý, vận hành. Đại diện chủ sở hữu không chỉ nắm quyền quyết định đối tượng được hưởng chính sách nhà ở công vụ, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, mà còn kiểm soát giá, chất lượng vận hành và các quyết định làm thay đổi tình trạng pháp lý của tài sản như chuyển đổi công năng, phá dỡ, xây dựng lại. Cách thiết kế này nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng tài sản công tùy tiện, thất thoát hoặc vượt khỏi mục tiêu an sinh, quốc phòng, công vụ.
Điều kiện để áp dụng đúng
Muốn áp dụng đúng Điều 15, phải xác định đồng thời ba yếu tố: nhà ở có thuộc tài sản công hay không, nguồn vốn đầu tư thuộc nhóm nào tại Điều 113 Luật Nhà ở 2023, và quyết định đang xét có thuộc nhóm thẩm quyền của đại diện chủ sở hữu hay đã được giao cho cơ quan quản lý nhà ở thực hiện. Đây là điều khoản về thẩm quyền nên sai từ khâu xác định loại nhà ở sẽ dẫn đến sai toàn bộ quy trình quyết định. Trong thực tiễn, bước nhận diện nguồn vốn đầu tư có ý nghĩa quyết định vì phạm vi quyền hạn giữa các khoản của Điều 15 không giống nhau.
Hiểu đúng về cơ chế giao việc
Khoản 3 cho phép đại diện chủ sở hữu giao một số việc cho cơ quan quản lý nhà ở, nhưng đây không phải là chuyển hẳn thẩm quyền sở hữu. Việc giao chỉ là cơ chế tổ chức thực hiện đối với các đầu việc đã luật định, còn trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về đại diện chủ sở hữu. Riêng đối với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, phạm vi giao việc rộng hơn, bao gồm cả một số quyết định về đối tượng sử dụng và thu hồi nhà ở theo khoản 1 Điều 15.
Sai lầm thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là xem mọi hoạt động liên quan đến nhà ở công đều do cơ quan quản lý nhà ở tự quyết. Thực ra, những nội dung cốt lõi như lựa chọn đối tượng thuê, quyết định giá, chuyển đổi công năng, thu hồi hay cưỡng chế thu hồi đều phải có căn cứ thẩm quyền rõ ràng từ đại diện chủ sở hữu hoặc từ cơ chế giao việc hợp lệ. Nhầm lẫn thứ hai là áp dụng một mẫu thẩm quyền chung cho mọi loại nhà ở công, trong khi Điều 15 phân hóa rất rõ theo nguồn vốn và mục đích sử dụng.
Lưu ý thực tiễn
Khi xử lý hồ sơ cụ thể, cần kiểm tra đầy đủ hồ sơ pháp lý của tài sản, quyết định giao quản lý, quy chế nội bộ và căn cứ thẩm quyền ban hành giá hoặc quyết định thu hồi. Với nhà ở phục vụ tái định cư có phần diện tích kinh doanh dịch vụ, việc sử dụng nguồn thu từ kinh doanh phải gắn chặt với mục tiêu hỗ trợ kinh phí bảo trì và quản lý vận hành, không được tách ra để sử dụng tùy ý. Điều 15 vì vậy vừa là điều khoản về thẩm quyền, vừa là cơ chế kiểm soát tài sản công theo hướng công khai, chặt chẽ và có thể truy trách nhiệm.