Điều 139 Luật nhà ở 2023: Cưỡng chế phá dỡ nhà ở

Bình luận Điều 139 Luật Nhà ở 2023 về cưỡng chế phá dỡ nhà ở, thẩm quyền, điều kiện áp dụng và chi phí cưỡng chế.

Điều 139. Cưỡng chế phá dỡ nhà ở

1. Trường hợp nhà ở phải phá dỡ theo quy định tại Điều 136 của Luật này mà chủ sở hữu nhà ở, người đang quản lý, sử dụng nhà ở, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình không tự nguyện thực hiện việc phá dỡ nhà ở thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ nhà ở.

2. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ nhà ở được quy định như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế đối với trường hợp phá dỡ nhà ở để thu hồi đất quy định tại điểm c khoản 1 Điều 136 của Luật này, phá dỡ nhà ở riêng lẻ quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều 136 của Luật này;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cưỡng chế đối với trường hợp phá dỡ nhà chung cư quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 136 của Luật này.

3. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức cưỡng chế phá dỡ nhà ở theo quyết định cưỡng chế phá dỡ nhà ở quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Kinh phí cưỡng chế phá dỡ nhà ở được quy định như sau:

a) Chủ sở hữu nhà ở hoặc người đang quản lý, sử dụng nhà ở hoặc chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình phải chi trả kinh phí cưỡng chế phá dỡ nhà ở và chi phí có liên quan đến việc phá dỡ nhà ở;

b) Trường hợp chủ sở hữu nhà ở, người đang quản lý, sử dụng nhà ở, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình không chi trả kinh phí cưỡng chế phá dỡ nhà ở và chi phí có liên quan đến việc phá dỡ nhà ở thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản để bảo đảm kinh phí cho việc phá dỡ nhà ở.

Ý nghĩa của quy định

Điều 139 đặt ra “cơ chế thực thi cuối cùng” cho nghĩa vụ phá dỡ nhà ở khi chủ thể có trách nhiệm không tự nguyện chấp hành. Mục tiêu là bảo đảm an toàn công trình, an toàn cộng đồng và hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là trong các trường hợp nhà ở đã rơi vào tình trạng phải phá dỡ theo Điều 136 Luật Nhà ở 2023.

Điểm đáng chú ý là điều luật không tạo ra một quyền cưỡng chế độc lập, mà chỉ vận hành trên nền tảng đã có quyết định hoặc căn cứ pháp lý về việc nhà ở thuộc trường hợp phải phá dỡ. Vì vậy, muốn áp dụng Điều 139 phải kiểm tra trước hết tính đúng đắn của căn cứ tại Điều 136.

Điều kiện để áp dụng

Việc cưỡng chế chỉ được kích hoạt khi có đủ hai yếu tố: nhà ở thuộc trường hợp phải phá dỡ theo Điều 136 và người có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện. Đây là điều kiện then chốt, vì nếu chưa xác định rõ căn cứ phá dỡ thì không thể chuyển sang cưỡng chế.

Trong thực tiễn, cần phân biệt giữa nghĩa vụ phá dỡ và biện pháp cưỡng chế phá dỡ. Nghĩa vụ có thể phát sinh từ yêu cầu khắc phục tình trạng công trình, từ thu hồi đất hoặc từ yêu cầu đối với nhà chung cư; còn cưỡng chế chỉ là biện pháp bảo đảm thi hành khi nghĩa vụ bị cố tình không thực hiện.

Thẩm quyền và trách nhiệm tổ chức

Điều 139 phân cấp khá rõ giữa cấp huyện và cấp tỉnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế đối với một số trường hợp nhà ở riêng lẻ và phá dỡ để thu hồi đất; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cưỡng chế đối với phá dỡ nhà chung cư theo các trường hợp luật định.

Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan tổ chức cưỡng chế theo quyết định đã ban hành. Cách thiết kế này cho thấy pháp luật tách bạch giữa người ra quyết định và người tổ chức thực hiện, nhằm bảo đảm kiểm soát quyền lực và thuận lợi cho thi hành trên thực tế.

Chi phí cưỡng chế

Nguyên tắc cơ bản là người có nghĩa vụ phá dỡ phải tự chịu toàn bộ kinh phí cưỡng chế và chi phí liên quan. Đây là điểm thể hiện rõ quan điểm “người gây ra nghĩa vụ thì phải gánh hậu quả chi phí”, tránh để ngân sách nhà nước thay thế nghĩa vụ cá nhân hoặc chủ đầu tư.

Trường hợp không tự nguyện chi trả, cơ quan có thẩm quyền được áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản để bảo đảm kinh phí. Quy định này rất quan trọng vì nó làm cho quyết định cưỡng chế không chỉ tồn tại trên giấy mà có cơ chế bảo đảm thi hành thực chất.

Những hiểu sai thường gặp

Không nên hiểu rằng cứ nhà ở xuống cấp là đương nhiên bị cưỡng chế phá dỡ. Điều luật chỉ vận hành khi đã có căn cứ pháp lý thuộc Điều 136 và có tình trạng không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ phá dỡ.

Cũng không nên nhầm lẫn giữa thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế và thẩm quyền tổ chức cưỡng chế. Nếu xác định sai cấp có thẩm quyền, quyết định cưỡng chế dễ bị xem là không hợp lệ về mặt thủ tục.

Một nhầm lẫn khác là cho rằng nhà nước luôn phải ứng trước toàn bộ chi phí phá dỡ. Về nguyên tắc, nghĩa vụ tài chính thuộc về chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hoặc chủ đầu tư có trách nhiệm phá dỡ.

Lưu ý khi áp dụng

Khi xử lý một vụ việc cụ thể, cần rà soát đồng thời ba lớp vấn đề: căn cứ phải phá dỡ, chủ thể có nghĩa vụ và đúng thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế. Thiếu một trong ba yếu tố này thì việc áp dụng Điều 139 không vững chắc.

Trong các tranh chấp thực tế, phần dễ phát sinh khiếu kiện nhất thường nằm ở bước xác định căn cứ phá dỡ và nghĩa vụ chi trả chi phí cưỡng chế. Vì vậy, hồ sơ hành chính phải thể hiện rõ lý do phá dỡ, căn cứ pháp lý và trình tự ra quyết định, thay vì chỉ ghi nhận một cách chung chung.

Điều 139 có áp dụng ngay khi nhà ở xuống cấp không?
Không. Phải có căn cứ nhà ở thuộc trường hợp phải phá dỡ theo Điều 136 và người có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện.
Ai có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phá dỡ nhà ở?
Tùy trường hợp, Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quyết định theo khoản 2 Điều 139.
Ai tổ chức cưỡng chế phá dỡ trên thực tế?
UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức cưỡng chế theo quyết định đã ban hành.
Chi phí cưỡng chế do ai chịu?
Nguyên tắc là chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hoặc chủ đầu tư có trách nhiệm phá dỡ phải chi trả toàn bộ chi phí.
Nếu không nộp chi phí cưỡng chế thì xử lý thế nào?
Cơ quan có thẩm quyền được áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản để bảo đảm kinh phí phá dỡ.
Mục lục văn bản