Điều 20 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 (VBHN 2025): Quyền của bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng có sẵn

Bình luận Điều 20 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 về quyền của bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng có sẵn.

Điều 20. Quyền của bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng có sẵn

1. Bên mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu bên bán, cho thuê mua hoàn thành các thủ tục mua bán nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng;

b) Yêu cầu bên bán, cho thuê mua giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng theo đúng thời hạn, chất lượng và các điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng; giao giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai và hồ sơ có liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng;

c) Yêu cầu bên bán, cho thuê mua bảo hành nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật;

d) Yêu cầu bên bán, cho thuê mua bồi thường thiệt hại do việc giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng không đúng thời hạn, chất lượng và các cam kết khác trong hợp đồng;

đ) Quyền khác theo hợp đồng.

2. Ngoài các quyền quy định tại khoản 1 Điều này, bên thuê mua còn có các quyền sau đây:

a) Cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng; được chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà ở, công trình xây dựng theo quy định tại Điều 49 của Luật này;

b) Yêu cầu bên cho thuê mua sửa chữa hư hỏng nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng trong thời hạn thuê mua mà không phải do lỗi của mình gây ra;

c) Yêu cầu bên cho thuê mua bồi thường thiệt hại do lỗi của bên cho thuê mua gây ra;

d) Có quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng kể từ thời điểm đã thanh toán đủ tiền cho bên cho thuê mua.

3. Bên thuê nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu bên cho thuê giao nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng theo thỏa thuận trong hợp đồng;

b) Yêu cầu bên cho thuê cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng;

c) Được cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng nếu có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản;

d) Được tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận với bên cho thuê trong trường hợp thay đổi chủ sở hữu;

đ) Yêu cầu bên cho thuê sửa chữa hư hỏng của nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng trong trường hợp nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng không phải do lỗi của mình gây ra;

e) Yêu cầu bên cho thuê bồi thường thiệt hại do lỗi của bên cho thuê gây ra;

g) Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng khi bên cho thuê có một trong các hành vi: không sửa chữa nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng không bảo đảm an toàn để sử dụng hoặc gây thiệt hại cho bên thuê; tăng giá thuê nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng không theo thỏa thuận trong hợp đồng; quyền sử dụng nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng bị hạn chế do lợi ích của bên thứ ba;

h) Quyền khác theo hợp đồng.

Ý nghĩa điều luật

Điều 20 được xây dựng theo hướng tăng cường an toàn pháp lý cho giao dịch bất động sản có sẵn. Nhà làm luật không chỉ bảo vệ quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản mà còn đặt nặng tính thực thi của hợp đồng: đúng thời hạn, đúng chất lượng, đúng hồ sơ, đúng cam kết. Đây là cơ sở để hạn chế tình trạng chậm bàn giao, bàn giao sai hiện trạng hoặc kéo dài việc sang tên, hoàn thiện giấy tờ.

Điểm cốt lõi của điều luật là chuyển quan hệ hợp đồng từ “thỏa thuận tự nguyện” sang “nghĩa vụ có thể cưỡng hành bằng yêu cầu pháp lý”. Khi một bên vi phạm, bên còn lại không chỉ có quyền phản đối mà còn có quyền đòi thực hiện, sửa chữa, bảo hành và bồi thường. Vì vậy, điều này thường được dùng trực tiếp để xác định quyền yêu cầu của khách hàng trong tranh chấp mua bán, thuê mua và thuê bất động sản.

Phạm vi áp dụng

Điều luật tách rõ ba nhóm chủ thể: bên mua/thuê mua và bên thuê. Với bên mua và thuê mua, quyền tập trung vào việc nhận tài sản, hồ sơ pháp lý, bảo hành và bồi thường khi giao dịch không đúng cam kết. Với bên thuê mua, phạm vi quyền rộng hơn vì còn gắn với cơ chế tích lũy để chuyển sang sở hữu sau khi thanh toán đủ tiền.

Với bên thuê, trọng tâm là quyền sử dụng ổn định trong thời hạn thuê, được cung cấp thông tin trung thực và được bảo vệ khi bên cho thuê vi phạm. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ phát sinh khi có các vi phạm được liệt kê rõ, như không sửa chữa, tăng giá trái thỏa thuận hoặc làm hạn chế quyền sử dụng do lợi ích của bên thứ ba. Đây không phải quyền chấm dứt tùy ý, mà là quyền phản ứng trước hành vi vi phạm đã được luật hóa.

Điều kiện để áp dụng

Để kích hoạt các quyền tại Điều 20, trước hết phải có hợp đồng hợp pháp và có nội dung làm căn cứ xác định thời hạn, chất lượng, phương thức giao tài sản, hồ sơ và các cam kết khác. Nếu hợp đồng không quy định cụ thể, quyền của các bên vẫn được bổ sung bởi quy định của pháp luật nhưng việc chứng minh vi phạm sẽ phụ thuộc nhiều vào chứng cứ giao kết, phụ lục, email, biên bản làm việc và chứng từ thanh toán.

Điều này đặc biệt quan trọng với quyền yêu cầu bồi thường. Muốn đòi bồi thường, bên bị vi phạm phải chứng minh hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm với thiệt hại. Không phải mọi chậm trễ đều tự động phát sinh bồi thường nếu không chứng minh được thiệt hại cụ thể hoặc nghĩa vụ liên quan.

Những hiểu nhầm thường gặp

Nhiều người cho rằng chỉ cần chậm bàn giao là đương nhiên được bồi thường toàn bộ. Cách hiểu này không đúng, vì bồi thường còn phụ thuộc vào thiệt hại chứng minh được và căn cứ hợp đồng, trong khi lãi chậm trả, phạt vi phạm hoặc chế tài khác phải căn cứ vào thỏa thuận và quy định áp dụng tương ứng.

Trong thuê mua, cũng dễ nhầm rằng quyền sở hữu phát sinh ngay từ khi ký hoặc khi nhận nhà. Thực tế, quyền sở hữu chỉ phát sinh khi đã thanh toán đủ tiền cho bên cho thuê mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác phù hợp pháp luật. Đây là mốc pháp lý quan trọng để phân định rủi ro, quyền định đoạt và trách nhiệm đối với tài sản.

Đối với hợp đồng thuê, không phải mọi trường hợp người thuê muốn trả nhà sớm đều được đơn phương chấm dứt. Điều luật chỉ cho phép khi bên cho thuê có hành vi vi phạm thuộc các trường hợp luật định hoặc khi hợp đồng cho phép. Do đó, cần đọc đồng thời Điều 20 với điều khoản chấm dứt hợp đồng và chế tài trong chính hợp đồng thuê.

Lưu ý thực tiễn

Điều 20 phát huy hiệu quả cao nhất khi hợp đồng được soạn kỹ về tiến độ bàn giao, tiêu chuẩn chất lượng, hồ sơ pháp lý, trách nhiệm bảo hành và chế tài vi phạm. Các điều khoản càng cụ thể thì việc áp dụng càng dễ, đặc biệt trong tranh chấp về chậm giao, bàn giao thiếu hồ sơ hoặc chất lượng không đạt.

Trong thực tiễn, bên mua hoặc bên thuê nên lập biên bản ghi nhận tình trạng tài sản ngay khi nhận bàn giao, vì đây là chứng cứ quan trọng để xác định lỗi và phạm vi thiệt hại. Khi phát sinh vi phạm, cần ưu tiên văn bản yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, ấn định thời hạn khắc phục và lưu toàn bộ chứng cứ giao nhận, thanh toán, trao đổi để làm cơ sở xử lý tiếp theo.

Kết luận ngắn

Điều 20 là điều khoản bảo vệ trực tiếp bên yếu thế trong giao dịch bất động sản có sẵn. Giá trị lớn nhất của điều luật nằm ở việc biến các cam kết giao dịch thành quyền yêu cầu cụ thể, có thể dùng ngay khi tranh chấp phát sinh.

Điều 20 bảo vệ chủ yếu ai trong giao dịch bất động sản?
Chủ yếu bảo vệ bên mua, bên thuê mua và bên thuê bằng các quyền nhận tài sản, yêu cầu hồ sơ, bảo hành, bồi thường và chấm dứt hợp đồng khi có vi phạm.
Chậm bàn giao có đương nhiên được bồi thường không?
Không. Phải chứng minh có vi phạm, có thiệt hại thực tế và có quan hệ nhân quả; việc bồi thường còn phụ thuộc hợp đồng và quy định áp dụng.
Khi nào bên thuê mua trở thành chủ sở hữu?
Khi đã thanh toán đủ tiền cho bên cho thuê mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác phù hợp pháp luật.
Người thuê có quyền cho thuê lại không?
Chỉ khi hợp đồng có thỏa thuận hoặc được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản. Không có thỏa thuận thì không mặc nhiên được cho thuê lại.
Bên thuê có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp nào?
Khi bên cho thuê vi phạm các trường hợp luật định như không sửa chữa, tăng giá trái thỏa thuận hoặc làm hạn chế quyền sử dụng do lợi ích của bên thứ ba.
Mục lục văn bản