Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Bình luận Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về nghĩa vụ nhận con, cấp dưỡng, bồi thường và quyền thừa kế trong mang thai hộ nhân đạo.
Điều 98. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.
2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
3. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.
4. Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.
5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.
Trọng tâm của điều luật
Điều 98 đặt trách nhiệm pháp lý lên bên nhờ mang thai hộ theo hướng rất rõ: người “nhờ” không chỉ là chủ thể đề nghị kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà còn phải nhận toàn bộ hậu quả pháp lý gắn với việc đứa trẻ được sinh ra. Cách thiết kế này phản ánh quan điểm lập pháp lấy quyền lợi của trẻ làm trung tâm, đồng thời bảo đảm bên mang thai hộ không bị biến thành bên gánh rủi ro thay cho người khác.
Quy định về nghĩa vụ chi trả chi phí thực tế để bảo đảm chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thấy đây không phải giao dịch mua bán hay “dịch vụ sinh con”. Các khoản chi chỉ được chấp nhận trong phạm vi thực tế, hợp lý và gắn với chăm sóc y tế theo quy định chuyên ngành, nên không được hiểu thành việc thanh toán mọi chi phí theo thỏa thuận tự do giữa các bên.
Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ
Điểm cần nắm là quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Đây là mốc pháp lý quyết định việc xác lập quan hệ cha mẹ - con, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng và các hệ quả dân sự liên quan. Người mẹ nhờ mang thai hộ đồng thời được hưởng chế độ thai sản theo pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Như vậy, luật không coi việc mang thai hộ làm gián đoạn trách nhiệm làm mẹ đối với đứa trẻ sau sinh. Ngược lại, sau thời điểm sinh, bên nhờ mang thai hộ phải chuyển ngay sang trạng thái chủ thể có đầy đủ trách nhiệm pháp lý đối với con, kể cả khi phát sinh mâu thuẫn về việc nhận con hoặc việc chăm sóc thực tế.
Nghĩa vụ nhận con là nghĩa vụ bắt buộc
Quy định “không được từ chối nhận con” là điểm mấu chốt của Điều 98. Khi đứa trẻ đã sinh ra trong khuôn khổ mang thai hộ hợp pháp, bên nhờ mang thai hộ không thể viện lý do thay đổi ý chí, hoàn cảnh kinh tế, giới tính của con hay các bất đồng với bên mang thai hộ để thoái thác trách nhiệm. Đây là cơ chế bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ bị bỏ rơi hoặc tranh chấp thân phận sau sinh.
Trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, luật buộc phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời đặt ra trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ. Điểm này cho thấy hành vi “chậm nhận” không phải là vi phạm mang tính đạo đức đơn thuần mà là vi phạm pháp lý có hậu quả cụ thể.
Cơ chế xử lý tranh chấp và hậu quả pháp lý
Nếu bên mang thai hộ từ chối giao con, bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc giao con. Quy định này cho thấy pháp luật ưu tiên giải quyết bằng cơ chế tư pháp khi phát sinh tranh chấp về việc chuyển giao trẻ, thay vì để các bên tự xử bằng thỏa thuận miệng hoặc áp lực thực tế. Trong thực tiễn, đây là căn cứ quan trọng để bảo đảm tính cưỡng hành của cam kết mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, con vẫn được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của người này. Điều đó khẳng định quan hệ pháp lý giữa con và bên nhờ mang thai hộ được bảo vệ đầy đủ, không bị triệt tiêu bởi sự kiện chết của người nhờ mang thai hộ.
Cách hiểu đúng khi áp dụng
Điều 98 chỉ áp dụng trong bối cảnh mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nên không thể suy diễn sang các trường hợp mang thai hộ vì lợi ích thương mại. Đồng thời, điều luật này không tự tạo ra quyền hợp pháp cho việc mang thai hộ nếu các điều kiện của luật chuyên ngành khác chưa được đáp ứng; đây là điều khoản về quyền, nghĩa vụ sau khi quan hệ mang thai hộ đã được xác lập hợp pháp.
Trong thực tiễn, nhầm lẫn phổ biến là cho rằng các bên có thể thỏa thuận linh hoạt để bên nhờ mang thai hộ chỉ nhận con khi “đạt yêu cầu” hoặc được quyền hủy bỏ nghĩa vụ nếu hoàn cảnh thay đổi. Cách hiểu này trái với bản chất của điều luật, vì luật đã khóa trách nhiệm của bên nhờ mang thai hộ ngay từ thời điểm trẻ sinh ra và đặt lợi ích của trẻ lên hàng đầu.
Lưu ý khi vận dụng vào vụ việc cụ thể
Khi xử lý tranh chấp, cần xác định rõ: việc mang thai hộ có hợp pháp hay không, thời điểm trẻ sinh ra, ai là bên nhờ mang thai hộ theo hồ sơ, và có hay không hành vi chậm nhận con hoặc từ chối giao con. Đây là các dữ kiện quyết định việc áp dụng nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường, yêu cầu Tòa án buộc giao con và giải quyết thừa kế. Nếu bỏ qua mốc thời gian và tình trạng pháp lý của việc mang thai hộ, rất dễ xác định sai chủ thể phải chịu trách nhiệm.