Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Bình luận pháp lý Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về xác định cha, mẹ khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.
3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.
4. Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật này.
Trọng tâm quy định và mục đích điều chỉnh
Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thiết lập cơ chế xác định cha, mẹ trong các trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nhằm bảo đảm sự ổn định quan hệ gia đình và quyền nhân thân của trẻ. Quy định này phân biệt rõ trường hợp vợ chồng điều trị hiếm muộn, phụ nữ độc thân chủ động sinh con, người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và người cho tinh trùng, noãn, phôi. Qua đó, pháp luật tạo khung pháp lý rõ ràng cho các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, tránh xung đột quyền giữa các bên có liên quan.
Các trường hợp áp dụng và điều kiện kích hoạt
Vợ chồng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Khoản 1 Điều 93 dẫn chiếu việc xác định cha, mẹ trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Điều này có nghĩa, nếu con do người vợ mang thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ngoài thời kỳ hôn nhân, thì chồng được suy đoán là cha theo khoản 1 và khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Trọng tâm ở đây là: việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm thay đổi cơ chế suy đoán cha, mẹ đã được quy định chung.
Phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Khoản 2 Điều 93 khẳng định người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là mẹ của con. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để ghi nhận quan hệ mẹ – con và làm căn cứ đăng ký khai sinh, quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Điều luật không xác lập quan hệ cha – con trong trường hợp này, trừ trường hợp sau đó có căn cứ khác để xác định cha theo quy định về xác định cha cho con ngoài giá thú. Người phụ nữ độc thân phải thỏa mãn điều kiện về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật chuyên ngành về khám bệnh, chữa bệnh và hỗ trợ sinh sản.
Người cho tinh trùng, noãn, phôi
Khoản 3 Điều 93 là điểm mấu chốt, khẳng định việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra. Điều này bảo đảm nguyên tắc ẩn danh, an toàn pháp lý và tránh các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa người cho và người nhận. Về mặt thực tiễn, người cho không có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con, không có quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa kế theo hàng thừa kế của cha, mẹ đối với trẻ; đồng thời cũng không có nghĩa vụ đối với trẻ.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Khoản 4 Điều 93 dẫn chiếu sang Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo đó, người được mang thai hộ (cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ) mới là cha, mẹ của con được sinh ra, không phải người mang thai hộ. Việc dẫn chiếu này nhằm tách bạch hai chế định: hỗ trợ sinh sản cho chính mình và mang thai hộ cho người khác, đồng thời bảo đảm quyền làm cha, mẹ của cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn theo điều kiện pháp luật chuyên ngành về mang thai hộ.
Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 93
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng người cho tinh trùng, noãn, phôi vẫn có thể yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con nếu có chứng cứ khoa học về quan hệ huyết thống. Điều 93 đã loại trừ rõ, pháp luật ưu tiên ổn định quan hệ gia đình của người nhận và bảo vệ trẻ, nên quan hệ huyết thống về mặt sinh học không tự động chuyển hóa thành quan hệ pháp lý cha, mẹ, con trong các trường hợp này. Nhầm lẫn thứ hai là coi người mang thai hộ là mẹ của con, trong khi Điều 93 yêu cầu áp dụng Điều 94, xác định người nhờ mang thai hộ mới là mẹ, cha hợp pháp. Ngoài ra, một số người hiểu sai rằng phụ nữ độc thân sinh con bằng hỗ trợ sinh sản buộc phải khai tên người cha, trong khi Điều 93 chỉ xác định người mẹ, còn việc xác định cha phải theo các quy định riêng về nhận cha, con.
Lưu ý thực tiễn khi đăng ký khai sinh và giải quyết tranh chấp
Khi đăng ký khai sinh cho trẻ sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cơ quan hộ tịch cần căn cứ các khoản 1 và 2 Điều 93 để xác định đúng tên cha, tên mẹ, tránh ghi tên người cho tinh trùng, noãn, phôi, người mang thai hộ. Trong trường hợp có tranh chấp về cha, mẹ, con liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, tòa án phải đồng thời đối chiếu Điều 88, Điều 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cũng như các văn bản chuyên ngành về hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ. Người tham gia kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cần tuân thủ đầy đủ quy trình, điều kiện pháp lý (hồ sơ, thỏa thuận, tư vấn y khoa, pháp lý) để bảo đảm khi áp dụng Điều 93, các quyền và nghĩa vụ cha, mẹ, con được xác định rõ ràng, hạn chế rủi ro tranh chấp sau này.