Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Giải thích từ ngữ
Bình luận Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về giải thích từ ngữ, giúp hiểu đúng khái niệm hôn nhân, gia đình, tảo hôn, kết hôn giả tạo, mang thai hộ.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
2. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
3. Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
4. Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.
5. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
8. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này.
9. Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.
10. Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.
12. Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.
13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.
14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
15. Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
16. Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.
17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.
19. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.
20. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.
21. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.
22. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
23. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.
24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.
25. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Vai trò của Điều 3 trong cấu trúc Luật Hôn nhân và Gia đình
Điều 3 tập trung giải thích hệ thống thuật ngữ cốt lõi được dùng xuyên suốt Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Đây là cơ sở đầu tiên để xác định quan hệ hôn nhân, gia đình có tồn tại hợp pháp hay không, cũng như để nhận diện các hành vi vi phạm như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo. Việc hiểu đúng Điều 3 giúp áp dụng thống nhất các điều khoản nội dung ở các chương sau, hạn chế tranh chấp về khái niệm.
Những khái niệm nền tảng cần nắm vững
Hôn nhân, gia đình và thời kỳ hôn nhân
Hôn nhân được hiểu là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, nhấn mạnh yếu tố đã đăng ký kết hôn hợp pháp, không chỉ là sống chung thực tế. Gia đình được định nghĩa rộng, bao gồm quan hệ hình thành từ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, gắn với quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên. Thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc sự kiện pháp lý khác, là mốc quan trọng để xác định tài sản chung – riêng, nghĩa vụ chung – riêng.
Quan hệ hôn nhân thực tế và “chung sống như vợ chồng”
“Chung sống như vợ chồng” được hiểu là nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng, dù không đăng ký kết hôn. Khái niệm này không tạo ra “hôn nhân” theo nghĩa pháp lý nhưng được dùng để xử lý một số hậu quả về con chung, tài sản chung, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Người áp dụng pháp luật cần phân biệt rõ: có đăng ký thì mới là hôn nhân; không đăng ký nhưng sống như vợ chồng chỉ được điều chỉnh trong phạm vi, điều kiện nhất định.
Các hành vi bị cấm qua hệ thống khái niệm
Tảo hôn, kết hôn trái pháp luật, cưỡng ép và cản trở kết hôn
Điều 3 đưa ra khái niệm tảo hôn, kết hôn trái pháp luật, cưỡng ép kết hôn, ly hôn và cản trở kết hôn, ly hôn nhằm làm rõ ranh giới hành vi bị cấm. Tảo hôn là lấy vợ, lấy chồng khi chưa đủ tuổi theo điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, còn kết hôn trái pháp luật là trường hợp dù đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nhưng không đáp ứng điều kiện kết hôn. Cưỡng ép, cản trở kết hôn hoặc ly hôn được mô tả bằng các hành vi cụ thể như đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, yêu sách của cải, giúp cơ quan có thẩm quyền có căn cứ xác định trách nhiệm hành chính, hình sự hoặc dân sự.
Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo và yêu sách của cải
Kết hôn giả tạo và ly hôn giả tạo đều nhấn mạnh yếu tố “lợi dụng” thủ tục pháp lý để đạt mục đích khác, không nhằm xây dựng gia đình hoặc chấm dứt thực sự quan hệ hôn nhân. Việc xác định giả tạo hay không dựa vào mục đích thực sự khi kết hôn, ly hôn, thường phải xét tổng thể hành vi, hoàn cảnh, chứng cứ. Yêu sách của cải trong kết hôn được hiểu là đòi hỏi vật chất quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn, là căn cứ để xử lý các tập quán “thách cưới”, “tiền đen” khi đã vượt ngưỡng hợp lý và xâm phạm quyền kết hôn tự nguyện.
Phạm vi thành viên gia đình, người thân thích
Điều 3 xác định chi tiết “thành viên gia đình”, “những người cùng dòng máu về trực hệ”, “người có họ trong phạm vi ba đời”, “người thân thích”. Danh mục thành viên gia đình không chỉ gồm vợ, chồng, cha mẹ, con mà còn bao quát cả cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, con riêng của vợ hoặc chồng, anh chị em nhiều nhánh, cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Các khái niệm này là cơ sở để xác định những trường hợp bị cấm kết hôn do quan hệ huyết thống, xác định nghĩa vụ cấp dưỡng, xác định người được ưu tiên giám hộ hoặc nuôi dưỡng trẻ em khi cha mẹ không còn khả năng chăm sóc.
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ
Điều 3 phân biệt rõ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ hợp pháp khi người phụ nữ mang thai tự nguyện, không vì mục đích thương mại, và sử dụng noãn của người vợ, tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào người mang thai hộ. Ngược lại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi bị cấm, được nhận diện qua việc người mang thai nhận lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác, là căn cứ để xử lý vi phạm và bảo vệ người phụ nữ khỏi bị lợi dụng cơ thể.
Khái niệm về cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu
Cấp dưỡng được hiểu là nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng nhưng không sống chung và thuộc các nhóm được bảo vệ (người chưa thành niên; người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản; người gặp khó khăn, túng thiếu). Nhu cầu thiết yếu được giải thích gồm ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu. Đây là cơ sở định lượng và định tính để Tòa án xác định mức cấp dưỡng phù hợp, cân bằng giữa khả năng của người có nghĩa vụ và nhu cầu tối thiểu của người được cấp dưỡng.
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Điều 3 cung cấp khái niệm “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”, bao gồm cả trường hợp một bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc các quan hệ giữa công dân Việt Nam nhưng được xác lập, thay đổi, chấm dứt theo pháp luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài hoặc có tài sản liên quan ở nước ngoài. Khái niệm này là tiền đề để lựa chọn pháp luật áp dụng, xác định thẩm quyền cơ quan Việt Nam và xử lý xung đột pháp luật trong các vụ việc hôn nhân, gia đình xuyên biên giới.
Nhầm lẫn và lưu ý thực tiễn khi áp dụng
Một số nhầm lẫn phổ biến gồm: cho rằng chung sống như vợ chồng đương nhiên được công nhận là hôn nhân; hiểu sai rằng kết hôn trái pháp luật là mọi trường hợp không đăng ký kết hôn; hoặc coi mọi sự hỗ trợ tài chính đều là cấp dưỡng. Khi áp dụng Điều 3, cần đối chiếu từng khái niệm với các điều luật nội dung liên quan, đặc biệt là điều kiện kết hôn, điều cấm kết hôn, quy định về đăng ký kết hôn, ly hôn, cấp dưỡng và quy định về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc nhận diện đúng khái niệm ngay từ đầu giúp chọn đúng thủ tục (công nhận, hủy, chấm dứt) và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình.