Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh

Bình luận Điều 25 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, phạm vi áp dụng và lưu ý thực tiễn.

Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh

1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.

2. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này.

Ý nghĩa của quy định

Điều 25 nhằm tạo ra một cơ chế pháp lý rõ ràng cho hoạt động kinh doanh do vợ chồng cùng tham gia, tránh việc giao dịch bị vô hiệu hoặc bị tranh chấp vì thiếu chủ thể đại diện. Quy định này thể hiện quan điểm tôn trọng sự thống nhất về lợi ích kinh tế của gia đình, đồng thời bảo vệ an toàn pháp lý cho bên thứ ba khi giao dịch với vợ chồng.

Điều kiện để áp dụng

Quy định chỉ được kích hoạt khi vợ, chồng kinh doanh chung, tức cả hai cùng tham gia vào hoạt động kinh doanh với tư cách đồng chủ thể hoặc cùng vận hành một hoạt động kinh doanh thực tế. Khi đó, người trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh được coi là đại diện hợp pháp của người còn lại trong phạm vi giao dịch đó. Nếu trước khi tham gia kinh doanh, vợ chồng đã có thỏa thuận khác, hoặc luật chuyên ngành có quy định riêng, thì phải áp dụng theo thỏa thuận hoặc luật đó.

Điểm cần phân biệt

Không phải mọi trường hợp một bên đứng tên hộ kinh doanh, ký hợp đồng hay quản lý hoạt động đều tự động làm phát sinh đại diện giữa vợ và chồng. Cốt lõi của điều luật là kinh doanh chung, không phải chỉ là việc một bên sử dụng tài sản chung hoặc hỗ trợ tài chính. Cũng cần phân biệt quy định này với trường hợp đưa tài sản chung vào kinh doanh; khi đó phải áp dụng theo Điều 36 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về định đoạt tài sản chung trong kinh doanh.

Hiểu đúng phạm vi đại diện

Người trực tiếp tham gia kinh doanh không phải là đại diện cho mọi giao dịch trong đời sống của vợ chồng, mà chỉ trong quan hệ kinh doanh cụ thể phát sinh từ hoạt động chung đó. Vì vậy, không được suy diễn thẩm quyền đại diện thành quyền xác lập mọi nghĩa vụ riêng của bên còn lại. Đây là điểm thường bị hiểu rộng quá mức trong thực tiễn.

Lưu ý thực tiễn

Khi giao dịch với vợ chồng cùng kinh doanh, bên thứ ba nên xác định rõ ai là người trực tiếp giao dịch, phạm vi kinh doanh chung, và có hay không thỏa thuận phân định thẩm quyền đại diện. Nếu có văn bản thỏa thuận khác giữa vợ chồng thì văn bản này có giá trị quyết định trong quan hệ nội bộ và thường ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, phạm vi ràng buộc của giao dịch. Trường hợp phát sinh tranh chấp, trọng tâm xem xét là nguồn gốc hoạt động kinh doanh, sự tham gia thực tế của mỗi bên và giới hạn đại diện được pháp luật thừa nhận.

Khi nào Điều 25 được áp dụng?
Khi vợ chồng cùng kinh doanh chung và một bên trực tiếp tham gia giao dịch. Nếu có thỏa thuận khác trước đó hoặc luật chuyên ngành quy định khác thì áp dụng theo quy định đó.
Một người đứng tên kinh doanh có mặc nhiên đại diện cho người còn lại không?
Không. Cần có yếu tố kinh doanh chung giữa vợ chồng; chỉ đứng tên hoặc chỉ quản lý chưa đủ để suy ra đại diện theo Điều 25.
Điều 25 khác gì với việc đưa tài sản chung vào kinh doanh?
Điều 25 điều chỉnh đại diện trong kinh doanh chung; còn việc đưa tài sản chung vào kinh doanh phải theo Điều 36 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Thỏa thuận giữa vợ chồng có được ưu tiên không?
Có. Nếu thỏa thuận được lập trước khi tham gia kinh doanh và không trái luật chuyên ngành, thỏa thuận đó sẽ điều chỉnh phạm vi đại diện.
Bên thứ ba cần lưu ý gì khi giao dịch?
Cần kiểm tra ai là người trực tiếp tham gia kinh doanh, phạm vi kinh doanh chung và có thỏa thuận phân định đại diện hay không để tránh tranh chấp về thẩm quyền.
Mục lục văn bản