Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Bình luận Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về thẩm quyền giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt tại khu vực biên giới.

Điều 123. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

1. Trọng tâm của Điều 123

Điều 123 tập trung vào phân định thẩm quyền giữa cơ quan đăng ký hộ tịch và Tòa án đối với các quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài. Điểm nổi bật là thiết lập cơ chế riêng cho các quan hệ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới. Người áp dụng cần chú ý: điều luật không quy định trình tự thủ tục, mà chỉ khoanh vùng cơ quan có thẩm quyền.

2. Phân định thẩm quyền hộ tịch và Tòa án

Khoản 1 khẳng định: các việc đăng ký hộ tịch liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (đăng ký kết hôn, khai sinh, khai tử, ghi chú hộ tịch…) được điều chỉnh hoàn toàn theo Luật Hộ tịch và văn bản hướng dẫn. Vì vậy, khi xử lý các thủ tục hành chính này, không viện dẫn Điều 123 để xác định thẩm quyền mà phải đối chiếu đúng Luật Hộ tịch.

Khoản 2 chuyển trọng tâm sang thẩm quyền giải quyết tại Tòa án, dẫn chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này phản ánh cách xây dựng pháp luật: Luật HNGĐ chỉ đặt ra nguyên tắc, còn việc Tòa án nào, cấp nào, nơi nào có thẩm quyền đã được quy định chi tiết trong BLTTDS. Cách hiểu đúng là dùng Điều 123 như “cửa ngõ” xác định đây là vụ việc có yếu tố nước ngoài, rồi áp dụng các điều khoản tương ứng của BLTTDS về thẩm quyền.

3. Cơ chế đặc thù cho khu vực biên giới

Khoản 3 là quy định mang tính đặc thù, chỉ áp dụng trong trường hợp: (i) có công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới, và (ii) có công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, và (iii) phát sinh quan hệ hôn nhân, gia đình thuộc các nhóm việc được liệt kê. Chỉ khi hội đủ ba yếu tố này thì thẩm quyền mới thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam.

Danh mục vụ việc được liệt kê gồm: hủy kết hôn trái pháp luật, ly hôn, tranh chấp quyền và nghĩa vụ vợ chồng, cha mẹ và con, nhận cha mẹ con, nuôi con nuôi, giám hộ. Điều 123 do đó tạo thuận lợi cho người dân biên giới khi giải quyết các quan hệ có yếu tố nước ngoài, tránh phải khởi kiện tại cấp tỉnh như thông lệ chung đối với nhiều vụ việc có yếu tố nước ngoài. Đây là điểm cần lưu ý để không nhầm lẫn với thẩm quyền chung của Tòa án cấp tỉnh theo BLTTDS.

4. Những nhầm lẫn thường gặp

4.1. Nhầm Điều 123 là quy định chung về thẩm quyền nước ngoài

Một cách hiểu sai phổ biến là coi Điều 123 là cơ sở duy nhất xác định thẩm quyền giải quyết mọi vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án. Thực tế, điều luật chỉ đóng vai trò dẫn chiếu, còn việc xác định cụ thể Tòa án nào, phương thức phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo cấp… phải căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự. Nếu chỉ bám vào Điều 123 mà bỏ qua BLTTDS sẽ dẫn đến xác định sai cấp Tòa án.

4.2. Lẫn lộn giữa đăng ký hộ tịch và giải quyết tranh chấp

Không ít trường hợp nhầm lẫn giữa thủ tục hành chính (đăng ký kết hôn, ghi chú kết hôn ở nước ngoài) với thủ tục tố tụng (yêu cầu công nhận, ly hôn, tranh chấp). Điều 123 tách bạch rõ: cơ quan hộ tịch giải quyết vấn đề đăng ký, Tòa án giải quyết tranh chấp và yêu cầu về hôn nhân gia đình. Việc xác định sai bản chất vụ việc sẽ dẫn đến nộp nhầm cơ quan, bị trả đơn hoặc hồ sơ, gây kéo dài thời gian giải quyết.

5. Lưu ý khi áp dụng vào vụ việc cụ thể

Thứ nhất, luôn xác định rõ yếu tố nước ngoài và có hay không yếu tố “khu vực biên giới” để kích hoạt khoản 3 Điều 123. Nếu chỉ có yếu tố nước ngoài nói chung mà không phải quan hệ ở khu vực biên giới như mô tả, thẩm quyền sẽ quay về nguyên tắc chung của BLTTDS, thường thuộc Tòa án cấp tỉnh.

Thứ hai, khi xử lý hồ sơ thực tế cần kết hợp Điều 123 với các điều về thẩm quyền theo lãnh thổ, theo cấp trong BLTTDS và quy định chi tiết của Luật Hộ tịch. Điều 123 không thay thế các quy định đó, mà chỉ bổ sung một “ngoại lệ” thuận lợi cho khu vực biên giới và nhấn mạnh sự phân tuyến giữa cơ quan hành chính (hộ tịch) và Tòa án.

Thứ ba, đối với quan hệ hôn nhân, gia đình giữa công dân Việt Nam ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng nhưng không cùng cư trú tại khu vực biên giới, quy định đặc thù của khoản 3 không áp dụng. Khi đó, cần trở lại cơ chế thẩm quyền chung, tránh suy rộng Điều 123 vượt quá phạm vi mà điều luật quy định.

Vụ ly hôn giữa công dân Việt Nam ở khu vực biên giới và công dân nước láng giềng cùng cư trú biên giới thuộc Tòa án nào?
Thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam theo khoản 3 Điều 123 Luật HNGĐ 2014.
Đăng ký kết hôn với người nước ngoài thực hiện theo Điều 123 hay Luật Hộ tịch?
Thẩm quyền đăng ký kết hôn với người nước ngoài xác định theo Luật Hộ tịch và văn bản hướng dẫn, không dựa riêng Điều 123.
Điều 123 có tự quy định chi tiết thẩm quyền từng cấp Tòa án không?
Không. Điều 123 chỉ đặt nguyên tắc và dẫn chiếu, thẩm quyền cụ thể từng cấp Tòa án do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.
Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng không ở khu vực biên giới áp dụng khoản nào Điều 123?
Chủ yếu áp dụng khoản 2 Điều 123, sau đó đối chiếu các điều về thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự để chọn đúng Tòa án.
Nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam ở biên giới và công dân nước láng giềng có thuộc Tòa án huyện không?
Có, nếu cả hai cùng cư trú khu vực biên giới, vụ việc nhận cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện theo khoản 3.
Mục lục văn bản