Điều 99 Luật Doanh nghiệp 2020: Chủ tịch công ty
Bình luận pháp lý Điều 99 Luật Doanh nghiệp 2020 về vị trí, nhiệm kỳ, quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch công ty trong doanh nghiệp nhà nước.
Điều 99. Chủ tịch công ty
1. Chủ tịch công ty do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo quy định của pháp luật. Chủ tịch công ty có nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Một cá nhân được bổ nhiệm không quá hai nhiệm kỳ, trừ trường hợp người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu. Tiêu chuẩn, điều kiện và các trường hợp miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch công ty được thực hiện theo quy định tại Điều 93 và Điều 94 của Luật này.
2. Chủ tịch công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại công ty theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khác theo quy định tại Điều 92 và Điều 97 của Luật này.
3. Tiền lương, phụ cấp, thù lao của Chủ tịch công ty được tính vào chi phí quản lý công ty.
4. Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch công ty tổ chức lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và nước ngoài trước khi quyết định vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty. Chi phí lấy ý kiến chuyên gia tư vấn được quy định tại quy chế quản lý tài chính của công ty.
5. Quyết định thuộc thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này phải được lập thành văn bản, ký tên với chức danh Chủ tịch công ty bao gồm cả trường hợp Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
6. Quyết định của Chủ tịch công ty có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc từ ngày có hiệu lực ghi trong quyết định, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.
7. Trường hợp Chủ tịch công ty xuất cảnh khỏi Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch công ty; việc ủy quyền phải được thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trường hợp ủy quyền khác thực hiện theo quy định tại quy chế quản lý nội bộ của công ty.
Vị trí pháp lý và mục đích thiết kế chức danh Chủ tịch công ty
Điều 99 điều chỉnh Chủ tịch công ty trong công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước. Chức danh này vừa là người quản trị cao nhất, vừa là người thực hiện quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Mục tiêu là tách bạch vai trò quản lý vốn nhà nước với hoạt động điều hành hằng ngày của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, nhưng vẫn bảo đảm có một đầu mối chịu trách nhiệm chính trị và pháp lý về việc sử dụng vốn nhà nước tại công ty.
Cơ chế bổ nhiệm, nhiệm kỳ và giới hạn số nhiệm kỳ
Khoản 1 nhấn mạnh việc bổ nhiệm Chủ tịch công ty thuộc thẩm quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu, không phải do công ty tự quyết. Chủ tịch có nhiệm kỳ không quá 05 năm, được bổ nhiệm lại nhưng bị giới hạn không quá hai nhiệm kỳ, ngoại lệ chỉ dành cho người đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty trước khi được bổ nhiệm lần đầu. Quy định này hướng tới: (i) bảo đảm tính kiểm soát và luân chuyển cán bộ, tránh quyền lực tập trung quá lâu; (ii) đồng thời ghi nhận nhu cầu ổn định đối với nhân sự gắn bó lâu năm với doanh nghiệp. Về tiêu chuẩn, điều kiện, miễn nhiệm, cách chức, Điều 99 trở thành điều khoản dẫn chiếu sang Điều 93 và Điều 94, nghĩa là người áp dụng phải đọc đồng bộ các điều này để đánh giá tính hợp pháp của quyết định nhân sự liên quan đến Chủ tịch.
Phạm vi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chủ tịch công ty
Khoản 2 khẳng định Chủ tịch công ty là người thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu trực tiếp tại công ty theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Đồng thời, Chủ tịch còn chịu các quyền và trách nhiệm theo Điều 92 và Điều 97 Luật Doanh nghiệp 2020. Khi áp dụng, cần xác định rõ: (i) nhóm quyền nhân danh chủ sở hữu (phê duyệt chiến lược, đầu tư, nhân sự chủ chốt); (ii) nhóm quyền quản trị doanh nghiệp (quyết định tổ chức, giám sát điều hành). Đây là cơ sở để đánh giá thẩm quyền của Chủ tịch khi ban hành quyết định cụ thể; nếu quyết định vượt phạm vi quy định tại các điều dẫn chiếu thì có nguy cơ bị xem là trái thẩm quyền.
Tiền lương, phụ cấp và chi phí chuyên gia tư vấn
Khoản 3 quy định tiền lương, phụ cấp, thù lao của Chủ tịch công ty được tính vào chi phí quản lý công ty, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và nghĩa vụ báo cáo tài chính. Do đó, doanh nghiệp cần quy định nội bộ rõ về cơ chế xác định mức lương, phụ cấp, thù lao và bảo đảm phù hợp các văn bản về quản lý tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước. Khoản 4 cho phép Chủ tịch sử dụng bộ máy quản lý, điều hành và bộ phận giúp việc của công ty để thực hiện quyền, nghĩa vụ; đồng thời mở cơ chế lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và nước ngoài đối với các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền. Chi phí tư vấn phải được quy định trong quy chế quản lý tài chính của công ty, nhằm tránh lạm chi, tạo lợi ích nhóm hoặc chi ngoài khung kiểm soát.
Hình thức, hiệu lực quyết định và yêu cầu ủy quyền khi vắng mặt
Khoản 5 yêu cầu mọi quyết định thuộc thẩm quyền quy định tại khoản 2 phải được lập thành văn bản, ký với chức danh Chủ tịch công ty, kể cả trường hợp kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Đây là điểm dễ bị hiểu sai: dù Chủ tịch kiêm Giám đốc thì khi nhân danh chức năng chủ sở hữu, vẫn phải thể hiện đúng chức danh Chủ tịch công ty trên văn bản để tránh nhầm lẫn thẩm quyền và căn cứ pháp lý sau này. Khoản 6 quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của quyết định: từ ngày ký hoặc ngày có hiệu lực ghi trong quyết định, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận. Khi áp dụng, cần phân định rõ loại quyết định nào phải có chấp thuận (thường là các quyết định lớn về tổ chức, vốn, tài sản…) dựa trên Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước và các văn bản ủy quyền cụ thể.
Khoản 7 điều chỉnh tình huống Chủ tịch công ty xuất cảnh khỏi Việt Nam trên 30 ngày. Khi đó, Chủ tịch bắt buộc phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ và đồng thời thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Quy định này nhằm tránh khoảng trống quyền lực và gián đoạn quản trị doanh nghiệp. Các trường hợp ủy quyền khác (không liên quan xuất cảnh trên 30 ngày) phải theo quy chế quản lý nội bộ của công ty, đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng quy chế chi tiết về trình tự, phạm vi, thời hạn ủy quyền, để hạn chế tranh chấp về hiệu lực và trách nhiệm giữa người ủy quyền và người được ủy quyền.
Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý khi áp dụng
Nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất Chủ tịch công ty với Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty trong doanh nghiệp tư nhân, dẫn tới áp dụng sai các quy định về nhiệm kỳ, giới hạn số nhiệm kỳ và thẩm quyền. Người áp dụng cần định vị rõ Điều 99 chỉ điều chỉnh Chủ tịch công ty trong doanh nghiệp nhà nước tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước. Một nhầm lẫn khác là cho rằng Chủ tịch có thể quyết định mọi vấn đề của công ty mà không cần căn cứ vào Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước và quy chế nội bộ; thực tế, quyền của Chủ tịch luôn bị giới hạn bởi các văn bản này. Khi soạn thảo và kiểm tra pháp lý quyết định của Chủ tịch, cần đối chiếu: (i) thẩm quyền được giao; (ii) hình thức văn bản; (iii) yêu cầu chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu; (iv) tình trạng ủy quyền nếu Chủ tịch vắng mặt dài ngày.