Điều 98 Luật Doanh nghiệp 2020: Chế độ làm việc, điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên
Bình luận pháp lý Điều 98 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước 2014 về chế độ làm việc, điều kiện và thể thức họp Hội đồng thành viên.
Điều 98. Chế độ làm việc, điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên
1. Hội đồng thành viên làm việc theo chế độ tập thể; họp ít nhất một lần trong một quý để xem xét, quyết định những vấn đề thuộc quyền, nghĩa vụ của mình. Đối với những vấn đề không yêu cầu thảo luận thì Hội đồng thành viên có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản theo quy định tại Điều lệ công ty. Hội đồng thành viên có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc trên 50% tổng số thành viên Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
2. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thành viên được Chủ tịch Hội đồng thành viên ủy quyền có trách nhiệm chuẩn bị chương trình, nội dung tài liệu, triệu tập, chủ trì và làm chủ tọa cuộc họp Hội đồng thành viên. Các thành viên Hội đồng thành viên có quyền kiến nghị bằng văn bản về chương trình họp. Nội dung và các tài liệu cuộc họp phải gửi đến các thành viên Hội đồng thành viên và người được mời dự họp chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày họp. Tài liệu sử dụng trong cuộc họp liên quan đến việc kiến nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, thông qua phương hướng phát triển công ty, thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổ chức lại hoặc giải thể công ty phải được gửi đến các thành viên chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày họp.
3. Thông báo mời họp Hội đồng thành viên có thể gửi bằng giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện tử hoặc phương thức khác do Điều lệ công ty quy định và được gửi trực tiếp đến từng thành viên Hội đồng thành viên và người được mời dự họp. Nội dung thông báo mời họp phải xác định rõ thời gian, địa điểm và chương trình họp. Hình thức họp trực tuyến có thể được áp dụng khi cần thiết.
4. Cuộc họp Hội đồng thành viên hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Hội đồng thành viên tham dự. Nghị quyết Hội đồng thành viên được thông qua khi có hơn một nửa tổng số thành viên tham dự biểu quyết tán thành; trường hợp có số phiếu ngang nhau thì nội dung có phiếu tán thành của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc người được Chủ tịch Hội đồng thành viên ủy quyền chủ trì cuộc họp là nội dung được thông qua. Thành viên Hội đồng thành viên có quyền bảo lưu ý kiến của mình và kiến nghị lên cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty.
5. Trường hợp lấy ý kiến các thành viên Hội đồng thành viên bằng văn bản thì nghị quyết Hội đồng thành viên được thông qua khi có hơn một nửa tổng số thành viên Hội đồng thành viên tán thành. Nghị quyết có thể được thông qua bằng cách sử dụng nhiều bản sao của cùng một văn bản nếu mỗi bản sao đó có ít nhất một chữ ký của thành viên Hội đồng thành viên.
6. Căn cứ vào nội dung và chương trình cuộc họp, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng thành viên mời đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự và thảo luận các vấn đề cụ thể trong chương trình cuộc họp. Đại diện cơ quan, tổ chức được mời dự họp có quyền phát biểu ý kiến nhưng không tham gia biểu quyết. Các ý kiến phát biểu của đại diện được mời dự họp được ghi đầy đủ vào biên bản của cuộc họp.
7. Nội dung các vấn đề thảo luận, các ý kiến phát biểu, kết quả biểu quyết, các nghị quyết được Hội đồng thành viên thông qua và kết luận của các cuộc họp Hội đồng thành viên phải được ghi biên bản. Chủ tọa và thư ký cuộc họp phải liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác và tính trung thực của biên bản họp Hội đồng thành viên. Biên bản họp Hội đồng thành viên phải được thông qua trước khi kết thúc cuộc họp. Biên bản phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời gian, địa điểm, mục đích, chương trình họp; danh sách thành viên dự họp; vấn đề được thảo luận và biểu quyết; tóm tắt ý kiến phát biểu của thành viên, đại diện được mời dự họp về từng vấn đề thảo luận;
b) Số phiếu biểu quyết tán thành và không tán thành đối với trường hợp không áp dụng phương thức bỏ phiếu trắng; số phiếu biểu quyết tán thành, không tán thành và không có ý kiến đối với trường hợp áp dụng phương thức bỏ phiếu trắng;
c) Các quyết định được thông qua;
d) Họ, tên, chữ ký của thành viên dự họp.
8. Thành viên Hội đồng thành viên có quyền yêu cầu Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý công ty, công ty con do công ty nắm giữ 100% vốn điều lệ, người đại diện phần vốn góp của công ty tại doanh nghiệp khác cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động của doanh nghiệp theo quy chế thông tin do Hội đồng thành viên quy định hoặc theo nghị quyết Hội đồng thành viên. Người được yêu cầu cung cấp thông tin phải cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu của thành viên Hội đồng thành viên, trừ trường hợp Hội đồng thành viên có quyết định khác.
9. Hội đồng thành viên sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc của công ty để thực hiện nhiệm vụ của mình.
10. Chi phí hoạt động của Hội đồng thành viên, tiền lương, phụ cấp và thù lao được tính vào chi phí quản lý công ty.
11. Trường hợp cần thiết, Hội đồng thành viên tổ chức việc lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và nước ngoài trước khi quyết định vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên. Chi phí lấy ý kiến chuyên gia tư vấn được quy định tại quy chế quản lý tài chính của công ty.
12. Nghị quyết Hội đồng thành viên có hiệu lực kể từ ngày được thông qua hoặc từ ngày có hiệu lực ghi trong nghị quyết, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.
1. Mục đích điều chỉnh và vai trò của Điều 98
Điều 98 quy định toàn diện về chế độ làm việc, điều kiện và thể thức họp của Hội đồng thành viên, nhằm bảo đảm hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước diễn ra theo cơ chế tập thể, minh bạch, có trách nhiệm. Quy định này gắn trực tiếp với việc kiểm soát tính hợp lệ của nghị quyết và quyết định quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Người áp dụng cần nhìn Điều 98 như bộ “quy tắc thủ tục” bắt buộc khi HĐTV xem xét, quyết định vấn đề thuộc thẩm quyền của mình.
2. Chế độ làm việc tập thể và hình thức thông qua nghị quyết
Hội đồng thành viên làm việc theo chế độ tập thể, họp định kỳ ít nhất mỗi quý và có thể họp bất thường khi xuất hiện vấn đề cấp bách theo các đề nghị được luật liệt kê. Việc này bảo đảm HĐTV không vận hành như cá nhân quyết định mà phải thảo luận, biểu quyết tập thể đối với các vấn đề trọng yếu. Bên cạnh hình thức họp trực tiếp, Điều 98 cho phép lấy ý kiến bằng văn bản đối với vấn đề không yêu cầu thảo luận, tạo linh hoạt nhưng vẫn giữ yêu cầu tỷ lệ tán thành trên một nửa tổng số thành viên. Người áp dụng cần chú ý phân biệt: họp để thảo luận, biểu quyết và lấy ý kiến bằng văn bản là hai cơ chế thông qua nghị quyết với điều kiện hợp lệ riêng.
3. Điều kiện họp hợp lệ và điều kiện thông qua nghị quyết
Điều kiện về tư cách và số lượng thành viên tham dự là trọng tâm khi kiểm tra tính hợp lệ của cuộc họp HĐTV. Cuộc họp chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; nếu không đạt tỷ lệ này, mọi nghị quyết đưa ra đều có nguy cơ vô hiệu do vi phạm trình tự, thủ tục. Về thông qua nghị quyết, luật đặt ra ngưỡng hơn một nửa số thành viên tham dự tán thành, đồng thời thiết lập cơ chế “lá phiếu quyết định” của Chủ tịch HĐTV hoặc người được ủy quyền chủ trì khi số phiếu ngang nhau. Thành viên có quyền bảo lưu ý kiến và kiến nghị lên cơ quan đại diện chủ sở hữu, đây là “van an toàn” để ghi nhận bất đồng chính đáng, đồng thời hỗ trợ cơ chế kiểm tra, giám sát từ chủ sở hữu nhà nước.
4. Thủ tục triệu tập, tài liệu họp và hình thức họp
Chủ tịch HĐTV hoặc người được ủy quyền chịu trách nhiệm chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu, triệu tập và chủ trì cuộc họp – đây là trách nhiệm pháp lý quan trọng, liên quan trực tiếp đến tính hợp lệ của thủ tục họp. Thông báo mời họp có thể gửi bằng nhiều phương thức (giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện tử…) nhưng bắt buộc phải xác định rõ thời gian, địa điểm, chương trình họp và được gửi trực tiếp đến từng thành viên. Luật đặt ra thời hạn gửi tài liệu tối thiểu (03 hoặc 05 ngày làm việc tùy nội dung) để bảo đảm thành viên có đủ thời gian nghiên cứu, hạn chế tình trạng “thông qua vội vàng” đối với quyết định quan trọng như sửa đổi Điều lệ, phương hướng phát triển, báo cáo tài chính, tổ chức lại hoặc giải thể công ty. Hình thức họp trực tuyến được thừa nhận, tạo điều kiện cho quản trị hiện đại, nhưng vẫn phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về triệu tập, chương trình, biểu quyết và lập biên bản.
5. Biên bản họp và trách nhiệm về tính trung thực
Biên bản họp là chứng cứ pháp lý ghi nhận toàn bộ diễn biến và kết quả cuộc họp HĐTV. Điều 98 yêu cầu ghi nhận đầy đủ vấn đề thảo luận, ý kiến phát biểu, kết quả biểu quyết, nghị quyết được thông qua và kết luận cuộc họp, kèm danh sách thành viên dự họp và chữ ký. Chủ tọa và thư ký họp liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của biên bản; biên bản phải được thông qua trước khi kết thúc cuộc họp. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong thực tiễn: nếu biên bản bị lập thiếu, sai nội dung hoặc không được thông qua đúng trình tự, tính hợp lệ của nghị quyết có thể bị đặt lại khi có tranh chấp hoặc kiểm tra, thanh tra.
6. Quyền tiếp cận thông tin và cơ chế hỗ trợ hoạt động HĐTV
Điều 98 trao cho thành viên HĐTV quyền yêu cầu Giám đốc, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, người quản lý công ty, công ty con 100% vốn và người đại diện phần vốn góp tại doanh nghiệp khác cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động doanh nghiệp. Việc cung cấp phải kịp thời, đầy đủ, chính xác theo quy chế thông tin hoặc nghị quyết HĐTV, trừ trường hợp HĐTV có quyết định khác. Đây là cơ chế bảo đảm HĐTV có dữ liệu đầy đủ để ra quyết định, đồng thời đặt nghĩa vụ tích cực lên bộ máy điều hành. Bên cạnh đó, HĐTV được sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc của công ty, cũng như có thể lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và nước ngoài đối với vấn đề quan trọng; chi phí hoạt động, tiền lương, phụ cấp, thù lao và chi phí tư vấn được tính vào chi phí quản lý và điều chỉnh bởi quy chế tài chính của công ty. Những quy định này khẳng định HĐTV không chỉ là cơ quan quyết định mà còn được bảo đảm nguồn lực và công cụ cần thiết để thực hiện thẩm quyền một cách chuyên nghiệp.
7. Người được mời dự họp và giá trị pháp lý của ý kiến tham vấn
HĐTV có quyền mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan để tham dự, thảo luận các vấn đề cụ thể trong chương trình họp. Những người được mời chỉ có quyền phát biểu ý kiến, không tham gia biểu quyết, nhưng ý kiến của họ phải được ghi đầy đủ vào biên bản họp. Về góc độ pháp lý, đây là cơ chế tham vấn, không làm thay đổi thẩm quyền quyết định và trách nhiệm cuối cùng của HĐTV, nhưng giúp nâng cao chất lượng quyết định và là căn cứ chứng minh HĐTV đã cân nhắc ý kiến chuyên môn, ý kiến của bên liên quan khi ra nghị quyết.
8. Hiệu lực nghị quyết và một số nhầm lẫn thường gặp
Nghị quyết HĐTV có hiệu lực kể từ ngày được thông qua hoặc ngày có hiệu lực ghi trong nghị quyết, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận. Khi áp dụng, cần tránh nhầm lẫn cho rằng mọi nghị quyết của HĐTV đều tự động có hiệu lực mà không cần kiểm tra xem nội dung đó có thuộc diện phải trình chủ sở hữu nhà nước chấp thuận theo luật và Điều lệ hay không. Một nhầm lẫn khác trong thực tiễn là chỉ chú trọng tỷ lệ tán thành mà bỏ qua điều kiện họp hợp lệ, thủ tục triệu tập, thời hạn gửi tài liệu và việc lập, thông qua biên bản; những yếu tố thủ tục này đều là cấu phần quan trọng đánh giá tính hợp lệ và khả năng bị xem xét lại của nghị quyết. Khi xử lý tình huống cụ thể, người áp dụng cần đối chiếu đồng thời Điều 98, Điều lệ công ty và các quy chế nội bộ về thông tin, quản lý tài chính để đánh giá đầy đủ.