Điều 92 Luật Doanh nghiệp 2020: Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên
Bình luận pháp lý Điều 92 Luật Doanh nghiệp 2020 về quyền, nghĩa vụ của Hội đồng thành viên và lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 92. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên
1. Hội đồng thành viên nhân danh công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên đối với công ty do công ty làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.
2. Hội đồng thành viên có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyết định các nội dung theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
b) Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc;
c) Quyết định kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ của công ty;
d) Tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ của công ty;
đ) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Điều lệ công ty, Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Vị trí pháp lý và vai trò “nhân danh công ty”
Khoản 1 Điều 92 nhấn mạnh Hội đồng thành viên là cơ quan nhân danh công ty để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp mà công ty là chủ sở hữu hoặc có phần vốn góp. Đây là cơ sở xác định ai có thẩm quyền biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên của công ty con, công ty liên kết. Trong thực tiễn, việc nhân danh công ty phải được thể hiện qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên và ủy quyền cụ thể cho người đại diện phần vốn, tránh tình trạng cá nhân tự quyết định theo ý chí riêng.
Phạm vi quyền quyết định chiến lược và tổ chức
Các điểm b và c khoản 2 cho thấy Hội đồng thành viên nắm quyền quyết định những vấn đề cốt lõi về tổ chức và định hướng phát triển: thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị phụ thuộc; thông qua kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, công nghệ. Đây là các quyết định có tác động dài hạn, nên thường yêu cầu nghị quyết được thông qua đúng trình tự, tỷ lệ biểu quyết theo Điều lệ và Luật Doanh nghiệp 2020. Khi áp dụng, cần phân biệt rõ thẩm quyền của Hội đồng thành viên với thẩm quyền điều hành thường xuyên của Tổng giám đốc/Giám đốc để không can thiệp quá sâu vào công việc quản trị tác nghiệp hằng ngày.
Gắn kết với Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước
Điểm a khoản 2 dẫn chiếu trực tiếp đến Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Điều này thể hiện rằng đối với công ty có vốn nhà nước, Hội đồng thành viên không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp mà còn phải tuân thủ các giới hạn, trình tự, phê duyệt đầu tư, mua bán tài sản, chuyển nhượng vốn theo luật chuyên ngành. Khi áp dụng, cần kiểm tra song song Điều lệ công ty, Luật Doanh nghiệp 2020 và luật về quản lý vốn nhà nước để xác định những quyết định nào Hội đồng thành viên được tự quyết, quyết định nào phải xin chấp thuận cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước.
Kiểm toán nội bộ và cơ chế kiểm soát
Điểm d khoản 2 trao cho Hội đồng thành viên quyền tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ. Đây là công cụ kiểm soát rủi ro, phòng ngừa sai phạm, đặc biệt trong doanh nghiệp có vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp lớn, nhiều đơn vị phụ thuộc. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp hiểu sai khi cho rằng chỉ cần kiểm toán độc lập là đủ, trong khi kiểm toán nội bộ là công cụ thường xuyên, phục vụ cho quản trị nội bộ và hỗ trợ Hội đồng thành viên đánh giá tính tuân thủ, hiệu quả sử dụng vốn.
Vai trò của Điều lệ và các quyền, nghĩa vụ “mở”
Điểm đ khoản 2 khẳng định Hội đồng thành viên còn có các quyền, nghĩa vụ khác theo Điều lệ, Luật Doanh nghiệp và pháp luật liên quan. Quy định này tạo khoảng “mở” để Điều lệ cụ thể hóa, phân quyền chi tiết phù hợp với mô hình, quy mô công ty. Tuy nhiên, Điều lệ không được trao cho Hội đồng thành viên những quyền trái luật, ví dụ tước bỏ thẩm quyền thuộc về chủ sở hữu, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước. Khi soạn thảo và áp dụng Điều lệ, cần đối chiếu với Điều 92 để bảo đảm sự tương thích, tránh vô hiệu một phần quy định nội bộ.
Nhầm lẫn và lưu ý khi áp dụng thực tiễn
Một nhầm lẫn thường gặp là đồng nhất mọi quyết định liên quan đến đơn vị phụ thuộc hoặc công ty con đều thuộc thẩm quyền điều hành của Tổng giám đốc, trong khi việc thành lập, tổ chức lại, giải thể là thẩm quyền của Hội đồng thành viên. Ngoài ra, khi nhân danh công ty thực hiện quyền chủ sở hữu tại công ty con, nếu người đại diện phần vốn không có nghị quyết hoặc ủy quyền hợp lệ từ Hội đồng thành viên thì quyết định biểu quyết của người đó có nguy cơ bị tranh chấp, yêu cầu vô hiệu. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình nội bộ rõ ràng về việc ban hành nghị quyết, ủy quyền đại diện phần vốn, lưu trữ hồ sơ để chứng minh việc thực hiện đúng thẩm quyền theo Điều 92.