Điều 91 Luật Doanh nghiệp 2020: Hội đồng thành viên
Bình luận pháp lý Điều 91 Luật Doanh nghiệp 2020 về vị trí pháp lý, cơ cấu và nhiệm kỳ Hội đồng thành viên trong công ty Nhà nước.
Điều 91. Hội đồng thành viên
1. Hội đồng thành viên nhân danh công ty thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Hội đồng thành viên bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, số lượng không quá 07 người. Thành viên Hội đồng thành viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật.
3. Nhiệm kỳ của Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên không quá 05 năm. Thành viên Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại. Một cá nhân được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng thành viên không quá 02 nhiệm kỳ tại một công ty, trừ trường hợp đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu.
Vị trí pháp lý của Hội đồng thành viên
Khoản 1 Điều 91 khẳng định Hội đồng thành viên là chủ thể nhân danh công ty thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật liên quan. Điều này cho thấy Hội đồng thành viên là thiết chế quản trị cao nhất, chịu trách nhiệm định hướng, quyết định các vấn đề chiến lược và bảo đảm công ty hành xử đúng pháp luật, thay vì chỉ là bộ phận tư vấn cho chủ sở hữu.
Cách quy định này cũng nhấn mạnh nguyên tắc tách biệt giữa chủ sở hữu Nhà nước và pháp nhân công ty: chủ sở hữu không trực tiếp quản lý điều hành, mà thông qua Hội đồng thành viên; từ đó làm rõ cơ chế chịu trách nhiệm của từng chủ thể khi phát sinh nghĩa vụ pháp lý hoặc tranh chấp.
Cơ cấu, số lượng thành viên và cơ chế bổ nhiệm
Khoản 2 Điều 91 đặt trần số lượng thành viên Hội đồng thành viên không quá 07 người. Mục tiêu là tránh tình trạng bộ máy quản trị cồng kềnh, khó ra quyết định, đồng thời vẫn bảo đảm đủ thành phần, chuyên môn để thảo luận và quyết sách các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước.
Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu. Điều này phản ánh cơ chế Nhà nước kiểm soát nhân sự chủ chốt của doanh nghiệp, bảo đảm người được giao quyền quản trị phù hợp chiến lược, chính sách công, đồng thời có công cụ trách nhiệm khi quản trị yếu kém, vi phạm pháp luật hoặc làm thất thoát vốn Nhà nước.
Một lưu ý thực tiễn là việc bổ nhiệm phải tuân thủ cả Điều 91 và các quy định chuyên ngành, quy chế quản lý vốn Nhà nước, tiêu chuẩn chức danh; nếu cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm không đúng quy định, quyết định của Hội đồng thành viên có nguy cơ bị xem xét tính hợp pháp và trách nhiệm cá nhân.
Nhiệm kỳ, tái bổ nhiệm và giới hạn số nhiệm kỳ
Khoản 3 Điều 91 quy định nhiệm kỳ của Chủ tịch và các thành viên không quá 05 năm, đồng thời cho phép bổ nhiệm lại. Quy định này dung hòa hai yêu cầu: tạo độ ổn định tương đối cho chiến lược quản trị, nhưng vẫn bảo đảm có cơ chế định kỳ rà soát, đánh giá và thay đổi nhân sự khi cần thiết.
Giới hạn một cá nhân không được bổ nhiệm quá 02 nhiệm kỳ tại một công ty nhằm phòng ngừa tình trạng “cầm quyền quá lâu”, quan hệ lợi ích đan xen, giảm hiệu quả giám sát. Cơ chế giới hạn nhiệm kỳ là một công cụ kiểm soát quyền lực phổ biến trong quản trị doanh nghiệp Nhà nước.
Ngoại lệ đối với người đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty trước khi được bổ nhiệm lần đầu cho thấy pháp luật khuyến khích sử dụng nhân sự gắn bó lâu dài, am hiểu nội bộ, nhưng vẫn yêu cầu điều kiện chặt chẽ (làm việc liên tục, thời gian đủ dài) để tránh lạm dụng ngoại lệ.
Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 91
Một nhầm lẫn phổ biến là coi Hội đồng thành viên chỉ là “đại diện cho cơ quan chủ sở hữu”, từ đó áp đặt trực tiếp ý chí cơ quan chủ sở hữu lên công ty. Trên thực tế, Hội đồng thành viên phải nhân danh công ty và ưu tiên lợi ích của công ty theo quy định pháp luật, kể cả khi phải cân bằng với yêu cầu của chủ sở hữu.
Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng chỉ cần cơ quan chủ sở hữu quyết định thì mọi việc bổ nhiệm, kéo dài nhiệm kỳ, tái bổ nhiệm đều hợp pháp, dù vượt quá số nhiệm kỳ hoặc không thỏa điều kiện 15 năm làm việc liên tục. Điều 91 đặt ra giới hạn bắt buộc; việc vượt quá có nguy cơ bị coi là trái luật, ảnh hưởng đến tính hợp pháp của các quyết định quản trị sau này.
Cũng cần tránh cách hiểu kéo dài nhiệm kỳ thực tế thông qua bổ nhiệm kiêm nhiệm, luân chuyển hình thức mà vẫn giữ thực quyền quản trị tại cùng công ty; nếu bản chất là tiếp tục giữ vị trí thành viên Hội đồng thành viên tại công ty đó, việc áp dụng giới hạn 02 nhiệm kỳ vẫn cần được xem xét.
Lưu ý khi vận dụng vào tình huống cụ thể
Khi đánh giá tính hợp pháp của các quyết định do Hội đồng thành viên ban hành, cần kiểm tra: (i) cơ cấu, số lượng thành viên có đúng giới hạn pháp luật; (ii) thẩm quyền bổ nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu; (iii) nhiệm kỳ và số lần bổ nhiệm có tuân thủ giới hạn 02 nhiệm kỳ và điều kiện ngoại lệ. Việc không đáp ứng các yếu tố này là dấu hiệu rủi ro về pháp lý.
Trong thực tiễn thanh tra, kiểm toán, kiểm soát nội bộ, Điều 91 thường được dùng làm căn cứ đánh giá rủi ro quản trị doanh nghiệp Nhà nước, nhất là về tính minh bạch nhân sự lãnh đạo. Doanh nghiệp cần xây dựng quy chế nhân sự nội bộ, quy trình bổ nhiệm, tái bổ nhiệm, đánh giá nhiệm kỳ bám sát nội dung Điều 91 để giảm thiểu tranh chấp và trách nhiệm cá nhân sau này.