Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2020: Công bố thông tin

Phân tích Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2020 về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Điều 73. Công bố thông tin

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này thực hiện công bố thông tin theo quy định tại các điểm a, c, đ, g khoản 1 Điều 109 và Điều 110 của Luật này.

1. Vị trí của Điều 73 trong cơ chế minh bạch thông tin

Điều 73 không tự tạo ra một nhóm nghĩa vụ mới mà dẫn chiếu sang các quy định về công bố thông tin áp dụng cho công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tổ chức quản trị theo mô hình tại điểm b khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020. Cách thiết kế này nhằm tránh trùng lặp, đồng thời đảm bảo nhóm công ty có mô hình quản trị gần với công ty cổ phần cũng phải tuân thủ chuẩn mực minh bạch tương ứng. Qua đó, minh bạch thông tin trở thành yêu cầu gắn liền với cấu trúc quản trị chặt chẽ hơn.

2. Đối tượng và điều kiện áp dụng Điều 73

Điều 73 chỉ áp dụng đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên đáp ứng hai điều kiện: thứ nhất, tổ chức quản trị theo mô hình được nêu tại điểm b khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020 (Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát); thứ hai, thuộc diện phải thực hiện công bố thông tin theo các điểm a, c, đ, g khoản 1 Điều 109 và Điều 110. Nếu doanh nghiệp tổ chức theo mô hình khác hoặc không thuộc nhóm có nghĩa vụ công bố thông tin tăng cường, Điều 73 không được “kích hoạt”.

3. Nội dung, phạm vi và chuẩn mực công bố thông tin

Thông qua dẫn chiếu, Điều 73 yêu cầu công ty TNHH hai thành viên trở lên thuộc diện điều chỉnh phải công bố các thông tin chủ yếu như: cơ cấu tổ chức quản trị; thông tin về thành viên, người quản lý; thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; báo cáo tài chính; nghị quyết, quyết định quan trọng của Hội đồng thành viên và của chủ sở hữu; cùng các thông tin khác theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2020. Trọng tâm không chỉ là “có công bố” mà còn là công bố đúng nội dung, đúng thời hạn và đúng hình thức theo quy định. Việc công bố không đầy đủ hoặc chậm trễ vẫn được coi là vi phạm nghĩa vụ.

4. Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 73

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng mọi công ty TNHH hai thành viên trở lên đều phải công bố thông tin như nhau, trong khi Điều 73 chỉ điều chỉnh nhóm công ty có mô hình quản trị theo điểm b khoản 1 Điều 88. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp hiểu công bố thông tin là nghĩa vụ “tùy nghi”, chỉ thực hiện khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc thành viên góp vốn, dẫn đến bỏ qua nghĩa vụ công bố chủ động và định kỳ. Cũng có trường hợp chỉ chú trọng nội dung công bố mà không tuân thủ kênh công bố đúng luật (ví dụ: chỉ gửi email cho thành viên, không thực hiện công bố qua hệ thống hoặc phương thức được Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều lệ quy định).

5. Lưu ý thực tiễn khi triển khai nghĩa vụ công bố thông tin

Do nghĩa vụ công bố thông tin gắn với chế độ quản trị và giám sát nội bộ, doanh nghiệp nên cụ thể hóa quy trình, đầu mối thực hiện, thời hạn và phương thức công bố trong Điều lệ và quy chế nội bộ. Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc/Tổng giám đốc và Ban kiểm soát cần phối hợp để đảm bảo thông tin được kiểm tra, phê duyệt trước khi công bố, tránh cung cấp thông tin sai lệch hoặc không nhất quán. Cuối cùng, cần lưu trữ đầy đủ bằng chứng về việc đã công bố (thời điểm, nội dung, kênh công bố) để làm cơ sở chứng minh tuân thủ khi phát sinh tranh chấp hoặc kiểm tra, thanh tra.

Điều 73 có áp dụng cho mọi công ty TNHH hai thành viên trở lên không?
Không. Điều 73 chỉ áp dụng cho công ty TNHH hai thành viên trở lên tổ chức quản trị theo điểm b khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020.
Công ty phải công bố những loại thông tin nào theo Điều 73?
Công ty phải công bố thông tin theo các điểm a, c, đ, g khoản 1 Điều 109 và Điều 110, gồm tổ chức quản trị, người quản lý, thay đổi đăng ký, báo cáo tài chính, nghị quyết quan trọng.
Nếu công ty chậm công bố thông tin thì có vi phạm Điều 73 không?
Có. Công bố thông tin không đúng thời hạn, không đúng nội dung hoặc không đúng hình thức đều là không tuân thủ Điều 73 và các điều được dẫn chiếu.
Doanh nghiệp đăng thông tin trên website nội bộ có đủ đáp ứng yêu cầu công bố không?
Chỉ đăng nội bộ thường không đủ. Hình thức công bố phải phù hợp quy định Luật Doanh nghiệp 2020, văn bản hướng dẫn và Điều lệ, bảo đảm tiếp cận công khai cho đối tượng liên quan.
Điều 73 có làm phát sinh thêm nghĩa vụ báo cáo tài chính so với luật khác không?
Điều 73 không tạo thêm loại báo cáo mới mà buộc doanh nghiệp thuộc diện điều chỉnh phải công bố các báo cáo, thông tin theo chuẩn mực đã nêu tại Điều 109 và Điều 110.
Mục lục văn bản