Điều 71 Luật Doanh nghiệp 2020: Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên

Bình luận Điều 71 Luật Doanh nghiệp 2020 về trách nhiệm, nghĩa vụ trung thực, trung thành, minh bạch và chống tư lợi của người quản lý công ty.

Điều 71. Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên

1. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên của công ty có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;

b) Trung thành với lợi ích của công ty; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp và doanh nghiệp mà người có liên quan của mình làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần, phần vốn góp chi phối;

d) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.

2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được tăng tiền lương, trả thưởng khi công ty không có khả năng thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn.

3. Thông báo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải bằng văn bản và bao gồm các nội dung sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp mà họ làm chủ, có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm làm chủ, sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần đó;

b) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp mà những người có liên quan của họ làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần, phần vốn góp chi phối.

4. Thông báo quy định tại khoản 3 Điều này phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh hoặc có thay đổi liên quan. Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách đối tượng quy định tại khoản 3 Điều này và các hợp đồng, giao dịch của họ với công ty. Danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty. Thành viên, người quản lý, Kiểm soát viên của công ty và người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục và sao một phần hoặc toàn bộ nội dung thông tin quy định tại khoản 3 Điều này trong giờ làm việc theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều lệ công ty.

Mục đích và ý nghĩa của Điều 71

Điều 71 đặt ra chuẩn mực hành vi tối thiểu đối với những người có quyền lực quản lý và kiểm soát trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trọng tâm là bảo vệ lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và gián tiếp bảo vệ chủ sở hữu, chủ nợ, người lao động. Điều luật chuyển nghĩa vụ của người quản lý từ “quyền lực” sang “trách nhiệm”, tạo cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm cá nhân khi lạm quyền, thiếu trung thực hoặc thiếu cẩn trọng.

Các nghĩa vụ cốt lõi của người quản lý

Nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và vì lợi ích tốt nhất của công ty

Theo điểm a khoản 1 Điều 71, người quản lý phải thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất. Đây là sự ghi nhận nghĩa vụ trung thực (không gian dối, che giấu thông tin), cẩn trọng (đánh giá rủi ro, cân nhắc hợp lý trước khi quyết định) và vì lợi ích tốt nhất của công ty (ưu tiên lợi ích hợp pháp của công ty, không đặt lợi ích cá nhân lên trên). Khi xem xét trách nhiệm, cơ quan có thẩm quyền thường đối chiếu hành vi thực tế với tiêu chuẩn của một người quản lý doanh nghiệp hợp lý trong cùng hoàn cảnh.

Nghĩa vụ trung thành và không tư lợi

Điểm b khoản 1 Điều 71 nhấn mạnh nghĩa vụ trung thành với lợi ích của công ty và cấm lạm dụng chức vụ, thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ tổ chức, cá nhân khác. Trọng tâm là phòng ngừa xung đột lợi ích và hành vi “ăn theo” cơ hội kinh doanh của công ty. Chỉ cần có hành vi sử dụng cơ hội, thông tin của công ty cho mục đích riêng, dù công ty chưa kịp triển khai, vẫn có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ trung thành.

Nghĩa vụ minh bạch lợi ích liên quan

Điểm c khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 71 quy định nghĩa vụ thông báo bằng văn bản về các doanh nghiệp mà người quản lý hoặc người có liên quan làm chủ, có cổ phần, phần vốn góp chi phối. Mục tiêu là giúp công ty nhận diện các bên liên quan, kiểm soát giao dịch tiềm ẩn xung đột lợi ích. Thông báo phải kịp thời (trong 05 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh hoặc thay đổi), đầy đủ (tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ, tỷ lệ sở hữu, thời điểm sở hữu) và được lưu giữ tại trụ sở để thành viên, người quản lý, Kiểm soát viên có quyền xem, trích lục theo Điều lệ.

Giới hạn tăng lương, thưởng khi mất khả năng thanh toán

Khoản 2 Điều 71 quy định Giám đốc/Tổng giám đốc không được tăng lương, trả thưởng khi công ty không có khả năng thanh toán đủ nợ đến hạn. Quy định này gắn trách nhiệm điều hành với bảo vệ chủ nợ, tránh tình trạng “rút ruột mềm” thông qua lương, thưởng trong giai đoạn doanh nghiệp khó khăn hoặc trên bờ vực phá sản. Khi vi phạm, quyết định tăng lương, thưởng có thể bị xem xét vô hiệu hoặc yêu cầu hoàn trả, đồng thời làm căn cứ xác định trách nhiệm cá nhân trong các thủ tục phá sản hoặc tranh chấp.

Cấu thành để áp dụng và hệ quả thực tiễn

Để áp dụng Điều 71, cần xác định ba yếu tố: (i) chủ thể thuộc nhóm Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng giám đốc, người quản lý khác, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên; (ii) hành vi vi phạm một trong các nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành, thông báo thông tin, hoặc nghĩa vụ không tăng lương, thưởng; (iii) thiệt hại hoặc nguy cơ thiệt hại cho công ty, chủ sở hữu, chủ nợ. Hệ quả thực tiễn thường là yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoàn trả lợi ích thu được, hoặc bị miễn nhiệm, cách chức, kèm theo trách nhiệm hành chính hay hình sự theo quy định pháp luật có liên quan.

Nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 71

Một là, đồng nhất trách nhiệm của “công ty” với trách nhiệm cá nhân người quản lý, trong khi Điều 71 nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân dựa trên nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành. Hai là, cho rằng chỉ khi có thiệt hại thực tế mới coi là vi phạm, trong khi hành vi tư lợi hoặc không thông báo xung đột lợi ích đã là hành vi trái luật, dù thiệt hại chưa phát sinh. Ba là, đánh giá “cẩn trọng” theo kết quả kinh doanh, thay vì dựa trên quá trình ra quyết định, thông tin người quản lý có được tại thời điểm quyết định.

Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn quản trị

Thứ nhất, nên thể chế hóa cụ thể các nghĩa vụ tại Điều lệ, quy chế nội bộ (quy chế HĐTV, quy chế người quản lý, quy chế xung đột lợi ích) để dễ áp dụng và xử lý. Thứ hai, xây dựng mẫu biểu thông báo về doanh nghiệp có liên quan, quy trình cập nhật, lưu giữ danh sách và cơ chế cho phép thành viên, Kiểm soát viên tiếp cận thông tin. Thứ ba, Giám đốc/Tổng giám đốc cần theo dõi sát dòng tiền, khả năng thanh toán để tránh ra quyết định tăng lương, thưởng trái khoản 2 Điều 71, nhất là trong giai đoạn công ty có dấu hiệu mất khả năng thanh toán hoặc đang trong thủ tục phá sản.

Người đại diện theo pháp luật có phải thông báo các công ty người thân sở hữu vốn không?
Có. Người đại diện theo pháp luật phải thông báo bằng văn bản về doanh nghiệp mà người có liên quan làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu vốn chi phối theo Điều 71.
Không thông báo về doanh nghiệp có liên quan thì có bị coi là vi phạm Điều 71 không?
Có. Không thực hiện nghĩa vụ thông báo đầy đủ, kịp thời về doanh nghiệp có liên quan là vi phạm khoản 1, khoản 3 Điều 71, dù chưa phát sinh giao dịch gây thiệt hại.
Giám đốc có được tăng lương cho mình khi công ty đang nợ lương người lao động không?
Nếu công ty không có khả năng thanh toán đủ nợ đến hạn, Giám đốc không được tăng lương, trả thưởng cho mình theo khoản 2 Điều 71, kể cả khi chưa tuyên bố phá sản.
Chỉ cần không gây thiệt hại thì sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty cho cá nhân có được không?
Không. Điều 71 cấm lạm dụng cơ hội kinh doanh, thông tin, tài sản của công ty để tư lợi, dù công ty chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể tại thời điểm xem xét.
Danh sách doanh nghiệp có liên quan được lưu giữ ở đâu và ai có quyền xem?
Danh sách phải lưu tại trụ sở chính công ty. Thành viên, người quản lý, Kiểm soát viên và người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục theo Điều lệ.
Mục lục văn bản