Điều 67 Luật Doanh nghiệp 2020: Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận
Phân tích Điều 67 Luật Doanh nghiệp 2020 về hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận và hậu quả khi vi phạm.
Điều 67. Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận
1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận:
a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty;
b) Người có liên quan của người quy định tại điểm a khoản này;
c) Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ;
d) Người có liên quan của người quy định tại điểm c khoản này.
2. Người nhân danh công ty ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan và lợi ích có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành viên phải quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo và thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này. Thành viên Hội đồng thành viên có liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết.
3. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết không đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Người ký kết hợp đồng, giao dịch, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó tham gia hợp đồng, giao dịch phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó.
Mục đích điều chỉnh và phạm vi điều luật
Điều 67 thiết lập cơ chế kiểm soát các giao dịch có nguy cơ xung đột lợi ích giữa công ty với thành viên, người quản lý và người có liên quan. Trọng tâm không phải cấm giao dịch, mà buộc giao dịch phải qua “bộ lọc” của Hội đồng thành viên để bảo đảm tính minh bạch, công bằng cho công ty và các thành viên khác. Phạm vi áp dụng chủ yếu cho công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và chỉ kích hoạt khi có giao dịch giữa công ty với các chủ thể được liệt kê tại khoản 1.
Những giao dịch nào phải đưa Hội đồng thành viên chấp thuận
Cấu thành thứ nhất là chủ thể giao dịch: một bên là công ty, bên còn lại thuộc một trong các nhóm: thành viên, người đại diện theo ủy quyền, Giám đốc/Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật; người có liên quan của các chủ thể này; người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ và người có liên quan của họ. Chỉ khi rơi đúng nhóm chủ thể nói trên, Điều 67 mới được kích hoạt. Cấu thành thứ hai là tính chất giao dịch: là hợp đồng hoặc giao dịch nhân danh công ty (mua bán, vay, cho vay, bảo đảm, dịch vụ, chuyển nhượng tài sản, chuyển giao cơ hội kinh doanh...). Không phân biệt giá trị lớn hay nhỏ, miễn đáp ứng điều kiện về chủ thể thì đều phải đưa Hội đồng thành viên xem xét, trừ trường hợp Điều lệ quy định hạn mức, loại trừ cụ thể nhưng không trái luật.
Nghĩa vụ thông báo và thủ tục chấp thuận
Người nhân danh công ty ký kết hợp đồng có nghĩa vụ thông báo trước cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về: (i) bên giao dịch là ai, có mối quan hệ liên quan với ai trong công ty; (ii) lợi ích liên quan của mình hoặc của người có liên quan; và (iii) dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch. Đây là điều kiện thủ tục cốt lõi để Hội đồng thành viên có đủ thông tin đánh giá rủi ro và lợi ích cho công ty.
Theo Điều 67, Hội đồng thành viên phải ra quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, trừ khi Điều lệ quy định thời hạn khác. Việc thông qua phải tuân thủ quy định về triệu tập, biểu quyết tại khoản 3 Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020; thành viên Hội đồng thành viên có liên quan đến hợp đồng, giao dịch không được tính vào biểu quyết. Quy định này nhằm loại bỏ ảnh hưởng của người có xung đột lợi ích, bảo đảm tính khách quan của quyết định chấp thuận.
Hậu quả pháp lý khi không tuân thủ Điều 67
Nếu hợp đồng, giao dịch thuộc diện phải chấp thuận nhưng lại được ký kết không đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 67 (ví dụ: không trình Hội đồng thành viên, không loại trừ quyền biểu quyết của người có liên quan, không thông báo đầy đủ lợi ích liên quan), giao dịch có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu. Tòa án sẽ căn cứ yêu cầu của bên có quyền và chứng cứ về vi phạm quy định, đồng thời áp dụng các hệ quả vô hiệu theo Bộ luật Dân sự và luật doanh nghiệp.
Người ký kết hợp đồng, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó tham gia giao dịch phải bồi thường thiệt hại và hoàn trả cho công ty mọi khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch. Đây là cơ chế trách nhiệm cá nhân nhằm răn đe hành vi lạm dụng quyền lực, lách cơ chế chấp thuận để trục lợi từ tài sản công ty.
Những hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng
Không phải mọi giao dịch với thành viên đều vô hiệu nếu thiếu nghị quyết
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần công ty giao dịch với thành viên mà không có nghị quyết chấp thuận thì đương nhiên vô hiệu. Trên thực tế, giao dịch chỉ bị vô hiệu khi thuộc trường hợp Điều 67 và Tòa án có quyết định vô hiệu. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án có thể xem xét yếu tố: giao dịch có gây thiệt hại cho công ty, việc không tuân thủ có làm sai lệch ý chí công ty hay không, có cơ chế “phê chuẩn sau” bởi Hội đồng thành viên hay Điều lệ cho phép sửa chữa thủ tục hay không.
Nhầm lẫn về “người có liên quan” và phạm vi áp dụng
Không ít doanh nghiệp hiểu hẹp “người có liên quan”, chỉ tính vợ/chồng hoặc người thân trực tiếp. Tuy nhiên, khái niệm này được định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan, bao gồm nhiều quan hệ rộng hơn (người thân thích, tổ chức mà cá nhân có quyền chi phối...). Khi đánh giá giao dịch, cần kiểm tra đồng thời cả mối quan hệ cá nhân và quan hệ tổ chức để xác định đúng phạm vi Điều 67, tránh bỏ sót giao dịch phải chấp thuận.
Lưu ý về Điều lệ và cơ chế nội bộ
Điều luật cho phép Điều lệ quy định chi tiết hơn về: ngưỡng giá trị giao dịch phải trình Hội đồng thành viên, trình tự thông qua, hình thức lấy ý kiến, thời hạn xử lý. Doanh nghiệp nên xây dựng quy trình nội bộ: biểu mẫu kê khai lợi ích liên quan, quy trình thẩm định giao dịch với bên liên quan, cơ chế báo cáo cho Kiểm soát viên. Thực tiễn, tranh chấp thường phát sinh khi thiếu hồ sơ chứng minh đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo và chấp thuận, do đó cần lưu trữ đầy đủ nghị quyết, biên bản họp và tài liệu kèm theo.