Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020: Nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên

Bình luận pháp lý Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020 về nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên và tỷ lệ thông qua.

Điều 59. Nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên

1. Hội đồng thành viên thông qua nghị quyết, quyết định thuộc thẩm quyền bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định.

2. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì nghị quyết, quyết định về các vấn đề sau đây phải được thông qua bằng biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên:

a) Sửa đổi, bổ sung nội dung Điều lệ công ty;

b) Quyết định phương hướng phát triển công ty;

c) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;

d) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

đ) Tổ chức lại, giải thể công ty.

3. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định một tỷ lệ khác, nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong trường hợp sau đây:

a) Được các thành viên dự họp sở hữu từ 65% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp trở lên tán thành, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Được các thành viên dự họp sở hữu từ 75% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp trở lên tán thành đối với nghị quyết, quyết định bán tài sản có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty.

4. Thành viên được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên trong trường hợp sau đây:

a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;

b) Ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp;

c) Tham dự và biểu quyết thông qua cuộc họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác;

d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử.

5. Nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

1. Mục đích điều chỉnh và vị trí của Điều 59

Điều 59 điều chỉnh cơ chế hình thành ý chí của Hội đồng thành viên (HĐTV) trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Trọng tâm không phải nội dung từng quyết định, mà là hình thức, trình tự và tỷ lệ tán thành để nghị quyết, quyết định được coi là hợp lệ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khi xem xét hiệu lực nghị quyết trong tranh chấp nội bộ hoặc khi cơ quan nhà nước kiểm tra hoạt động doanh nghiệp.

2. Hình thức thông qua nghị quyết: nguyên tắc và phạm vi tùy chỉnh

Khoản 1 ghi nhận ba nhóm hình thức: biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản và các hình thức khác do Điều lệ quy định. Cách thiết kế này cho phép doanh nghiệp tùy biến trong Điều lệ để phù hợp đặc thù quản trị, miễn đảm bảo minh bạch và chứng minh được ý chí của thành viên. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần quy định rõ ràng trong Điều lệ cách thức thực hiện, cách xác định thời điểm nhận phiếu, lưu trữ chứng cứ (biên bản, email, log hệ thống…) để tránh tranh chấp về việc có biểu quyết hay không.

3. Những vấn đề bắt buộc phải họp trực tiếp (nếu Điều lệ không quy định khác)

Khoản 2 xác định một số quyết định quan trọng mặc định phải được thông qua bằng biểu quyết tại cuộc họp HĐTV nếu Điều lệ không nói khác. Đó là: sửa đổi Điều lệ, phương hướng phát triển, nhân sự chủ chốt (Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng giám đốc), thông qua báo cáo tài chính năm, tổ chức lại, giải thể. Tinh thần là những vấn đề tác động sâu đến cấu trúc, định hướng và sự tồn tại doanh nghiệp phải được thảo luận trực tiếp, tập trung thay vì chỉ lấy ý kiến rời rạc bằng văn bản.

Một nhầm lẫn thường gặp là cho rằng mọi quyết định về nhân sự quản lý hoặc tài chính đều bắt buộc phải họp trực tiếp. Trên thực tế, chỉ khi Điều lệ không có quy định khác thì mới buộc áp dụng cơ chế này; nếu Điều lệ cho phép lấy ý kiến bằng văn bản cho các nội dung này thì có thể áp dụng, miễn tuân thủ chặt chẽ trình tự và tỷ lệ tán thành tương ứng.

4. Tỷ lệ thông qua nghị quyết tại cuộc họp: phân biệt quyết định thông thường và quyết định quan trọng

Khoản 3 thiết lập hai ngưỡng biểu quyết tại cuộc họp nếu Điều lệ không quy định khác. Thứ nhất, đa số tăng cường từ 65% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp cho các nghị quyết thông thường. Thứ hai, ngưỡng 75% vốn góp của thành viên dự họp cho các quyết định quan trọng: bán tài sản từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên (hoặc tỷ lệ nhỏ hơn do Điều lệ quy định), sửa đổi Điều lệ, tổ chức lại, giải thể.

Cần lưu ý hai điểm: một là tỷ lệ này được tính trên vốn góp của các thành viên dự họp, không phải trên vốn điều lệ, nên việc tổ chức họp và đảm bảo tỷ lệ tham dự có ý nghĩa quyết định. Hai là Điều lệ có thể quy định tỷ lệ khác, nhưng không được trái nguyên tắc bảo vệ thiểu số đến mức vô hiệu hóa hoàn toàn quyền biểu quyết của họ; trên thực tế, tỷ lệ quá thấp cho quyết định quan trọng dễ bị coi là không bảo đảm chuẩn mực quản trị và trở thành điểm bị tranh chấp.

5. Xác định thành viên “tham dự và biểu quyết” – nền tảng cho việc tính tỷ lệ

Khoản 4 mở rộng khái niệm tham dự và biểu quyết, phù hợp với thực tiễn số hóa và ủy quyền. Thành viên được coi là dự họp nếu: trực tiếp dự và biểu quyết; ủy quyền cho người khác; tham dự qua họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác; gửi phiếu biểu quyết qua thư, fax, email. Khi áp dụng, doanh nghiệp cần xây dựng quy chế cụ thể về ủy quyền (hình thức, phạm vi, thời hạn) và hình thức điện tử (xác thực người tham dự, lưu trữ dữ liệu) để bảo đảm khả năng chứng minh hợp lệ.

Một nhầm lẫn khá phổ biến là chỉ tính người có mặt tại địa điểm họp và bỏ qua phiếu gửi trước hoặc người tham dự trực tuyến. Điều này dẫn đến sai sót trong việc xác định đủ điều kiện tiến hành họp, đủ tỷ lệ thông qua nghị quyết, và có thể là căn cứ để yêu cầu tuyên bố nghị quyết vô hiệu trong tranh chấp.

6. Lấy ý kiến bằng văn bản và sự khác biệt về ngưỡng tán thành

Khoản 5 quy định nghị quyết được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi số thành viên sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên tán thành, trừ khi Điều lệ quy định tỷ lệ cụ thể khác. Điểm khác biệt quan trọng so với khoản 3 là ở cơ sở tính tỷ lệ: tại cuộc họp tính trên vốn góp của thành viên dự họp, còn với hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì mặc định tính trên vốn điều lệ. Điều này khiến hình thức lấy ý kiến bằng văn bản có “độ chặt” cao hơn, hạn chế việc một nhóm thành viên ít, nhưng tích cực phản hồi, lại quyết định được vấn đề của cả công ty.

Khi thiết kế Điều lệ, doanh nghiệp nên phân định rõ: loại vấn đề nào ưu tiên họp trực tiếp, loại nào có thể lấy ý kiến bằng văn bản; tỷ lệ tán thành khi lấy ý kiến bằng văn bản cho từng nhóm quyết định; thời hạn phản hồi, cách xử lý trường hợp không trả lời. Nếu không quy định rõ, việc áp dụng mặc định của Điều 59 dễ dẫn đến khó khăn khi cần ra quyết định nhanh nhưng không đủ tỷ lệ tán thành theo vốn điều lệ.

7. Một số lưu ý thực tiễn khi áp dụng Điều 59

Thứ nhất, luôn kiểm tra Điều lệ trước khi áp dụng tỷ lệ và hình thức ra quyết định theo Điều 59, vì nhiều nội dung được phép “mềm hóa” bằng thỏa thuận nội bộ. Thứ hai, cần thiết lập hồ sơ đầy đủ cho từng nghị quyết: thông báo mời họp/lấy ý kiến, danh sách thành viên dự họp hoặc phản hồi, phiếu biểu quyết, biên bản, tài liệu chứng minh việc gửi nhận qua thư, email, hệ thống điện tử. Đây là chứng cứ then chốt khi phát sinh tranh chấp về tính hợp lệ của nghị quyết HĐTV.

Thứ ba, chú ý phân biệt rõ giữa tỷ lệ dự họp (điều kiện tiến hành cuộc họp theo điều khác của Luật Doanh nghiệp 2020) và tỷ lệ tán thành để thông qua nghị quyết theo Điều 59. Nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn, cho rằng chỉ cần đủ điều kiện tiến hành họp là mặc nhiên nghị quyết hợp lệ, trong khi tỷ lệ tán thành thực tế chưa đạt ngưỡng luật định hoặc Điều lệ đặt ra.

Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020 áp dụng cho loại hình công ty nào?
Điều 59 áp dụng cho cơ chế thông qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, không áp dụng cho công ty cổ phần.
Điều lệ công ty có được quy định tỷ lệ thông qua nghị quyết khác Điều 59 không?
Có. Điều 59 cho phép Điều lệ quy định tỷ lệ khác, nhưng không nên đặt tỷ lệ quá thấp cho quyết định quan trọng vì dễ phát sinh tranh chấp và ảnh hưởng bảo vệ cổ đông thiểu số.
Phiếu biểu quyết gửi qua email có được tính là tham dự và biểu quyết không?
Nếu việc gửi phiếu qua thư điện tử được thực hiện đúng quy định Điều 59 và Điều lệ, phiếu đó được tính là tham dự và biểu quyết, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thông qua nghị quyết.
Quyết định bán tài sản lớn có bắt buộc phải được ít nhất 75% vốn góp tán thành không?
Mặc định cần tối thiểu 75% vốn góp của thành viên dự họp tán thành khi bán tài sản từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên, trừ khi Điều lệ quy định ngưỡng tỷ lệ khác nhỏ hơn, nhưng phải thể hiện rõ ràng.
Lấy ý kiến bằng văn bản theo Điều 59 được tính tỷ lệ trên vốn góp nào?
Nghị quyết được thông qua bằng lấy ý kiến văn bản khi số thành viên sở hữu từ 65% vốn điều lệ tán thành, trừ khi Điều lệ quy định tỷ lệ cụ thể khác cho hình thức này.
Mục lục văn bản