Điều 53 Luật Doanh nghiệp 2020: Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt

Bình luận pháp lý Điều 53 Luật Doanh nghiệp 2020 về xử lý phần vốn góp trong các trường hợp đặc biệt, dành cho thành viên và doanh nghiệp.

Điều 53. Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt

1. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên công ty.

2. Trường hợp thành viên là cá nhân bị Tòa án tuyên bố mất tích thì quyền và nghĩa vụ của thành viên được thực hiện thông qua người quản lý tài sản của thành viên đó theo quy định của pháp luật về dân sự.

3. Trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người đại diện.

4. Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Luật này trong các trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế không muốn trở thành thành viên;

b) Người được tặng cho theo quy định tại khoản 6 Điều này không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên;

c) Thành viên công ty là tổ chức giải thể hoặc phá sản.

5. Trường hợp phần vốn góp của thành viên công ty là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.

6. Trường hợp thành viên tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác thì người được tặng cho trở thành thành viên công ty theo quy định sau đây:

a) Người được tặng cho thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người này đương nhiên là thành viên công ty;

b) Người được tặng cho không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này thì người này chỉ trở thành thành viên công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.

7. Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai hình thức sau đây:

a) Trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;

b) Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

8. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì thành viên đó ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc tất cả quyền và nghĩa vụ của mình tại công ty.

9. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề, làm công việc nhất định hoặc thành viên công ty là pháp nhân thương mại bị Tòa án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của công ty thì thành viên đó không được hành nghề, làm công việc đã bị cấm tại công ty đó hoặc công ty tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án.

Mục đích và phạm vi điều chỉnh của Điều 53

Điều 53 nhằm xử lý phần vốn góp khi tư cách pháp lý hoặc khả năng thực hiện quyền của thành viên bị thay đổi do các sự kiện đặc biệt như chết, mất tích, mất năng lực, phá sản, bị cấm hành nghề, bị tạm giam. Quy định tập trung vào hai nhóm vấn đề: người nào kế thừa hoặc thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên và công ty xử lý phần vốn góp đó ra sao. Qua đó, điều luật cân bằng ba lợi ích: quyền tài sản của thành viên và người thừa kế, quyền tự do kinh doanh và kiểm soát thành viên của công ty, cùng yêu cầu an toàn pháp lý cho giao dịch.

Trọng tâm: kế thừa tư cách thành viên và xử lý phần vốn góp

Thành viên chết, mất tích, mất năng lực hành vi

Đối với thành viên là cá nhân chết, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đương nhiên trở thành thành viên thay thế, trừ các trường hợp được xử lý khác theo khoản 4 và khoản 5. Điều này thể hiện quan niệm phần vốn góp vừa là quyền tài sản, vừa gắn với tư cách thành viên nhưng vẫn được dịch chuyển theo cơ chế thừa kế của Bộ luật Dân sự. Khi thành viên bị tuyên bố mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, quyền và nghĩa vụ không mất đi mà được thực hiện thông qua người quản lý tài sản hoặc người đại diện theo pháp luật, bảo đảm hoạt động công ty không bị gián đoạn.

Không có người thừa kế hoặc người thừa kế không nhận

Trường hợp thành viên chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận hoặc bị truất quyền, phần vốn góp được xử lý theo pháp luật dân sự. Thực chất, đây là việc chuyển sang cơ chế di sản vô chủ hoặc di sản không có người nhận, kéo theo các bước xử lý như tài sản không có người thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2015. Người áp dụng cần lưu ý: công ty không tự động được sở hữu phần vốn góp mà phải tuân theo trình tự, thủ tục về quản lý, xử lý di sản.

Quyền tự quyết của công ty trong việc chấp nhận thành viên mới

Người thừa kế, người được tặng cho, người nhận thanh toán nợ

Điều 53 thiết kế cơ chế phân loại đối tượng được nhận chuyển giao phần vốn góp để bảo vệ tính khép kín và yếu tố “thân hữu” của công ty trách nhiệm hữu hạn. Đối với người thừa kế theo pháp luật của thành viên (điểm a khoản 6), pháp luật thừa nhận đương nhiên là thành viên, vì họ gắn với quan hệ gia đình, huyết thống. Ngược lại, các chủ thể khác (người được tặng cho không thuộc hàng thừa kế, người nhận phần vốn góp để thanh toán nợ) chỉ trở thành thành viên nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận, thể hiện quyền tự quyết của công ty trong việc kiểm soát thành viên mới.

Khi người thừa kế không muốn trở thành thành viên, hoặc người được tặng cho/nhận thanh toán không được chấp thuận, Điều 53 yêu cầu phần vốn góp phải được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo Điều 51, Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020. Cơ chế này tạo đường ra rõ ràng: quyền tài sản vẫn được bảo đảm, trong khi công ty có quyền giữ ổn định cơ cấu thành viên bằng việc mua lại phần vốn hoặc tìm thành viên phù hợp.

Xử lý phần vốn góp trong giao dịch và thi hành nghĩa vụ

Tặng cho phần vốn góp

Điều 53 không cấm việc tặng cho phần vốn góp, nhưng phân biệt về hệ quả tư cách thành viên. Nếu người được tặng cho thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người tặng, người này nghiễm nhiên trở thành thành viên, không cần biểu quyết chấp thuận. Ngược lại, nếu là người ngoài, Hội đồng thành viên có quyền chấp thuận hoặc từ chối, qua đó giảm rủi ro bị “thôn tính mềm” thông qua việc tặng cho vốn góp cho người lạ.

Dùng phần vốn góp để trả nợ

Khi thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ, người nhận thanh toán có hai lựa chọn: đề nghị trở thành thành viên nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận hoặc chào bán, chuyển nhượng phần vốn theo Điều 52. Đây là điểm dễ bị hiểu nhầm: người nhận thanh toán không đương nhiên trở thành thành viên chỉ vì nhận phần vốn góp, mà vẫn phải tuân thủ cơ chế kiểm soát thành viên của công ty. Đồng thời, họ luôn có lối thoát về tài sản là chuyển nhượng phần vốn theo trình tự luật định.

Thành viên đang chấp hành án, bị cấm hành nghề hoặc bị cấm kinh doanh

Thành viên bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, biện pháp xử lý hành chính

Đối với thành viên cá nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc, điều luật cho phép họ ủy quyền cho người khác thực hiện một phần hoặc toàn bộ quyền, nghĩa vụ trong công ty. Cơ chế ủy quyền giúp bảo toàn quyền tài sản và ảnh hưởng của thành viên, đồng thời bảo đảm hoạt động quản trị, biểu quyết, giao dịch của công ty không bị đình trệ vì lý do nhân thân của một thành viên.

Thành viên bị cấm hành nghề, pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh

Trường hợp thành viên cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề, làm công việc nhất định hoặc thành viên là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực thuộc ngành, nghề của công ty, điều luật buộc phải loại trừ hành vi bị cấm khỏi phạm vi hoạt động của thành viên và công ty. Theo đó, thành viên không được thực hiện công việc bị cấm tại chính công ty đó, và công ty phải tạm ngừng hoặc chấm dứt kinh doanh ngành nghề liên quan theo quyết định của Tòa án. Đây là điểm quan trọng nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự và các luật chuyên ngành, tránh tình trạng lách lệnh cấm thông qua pháp nhân công ty.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý khi áp dụng

Một là, nhiều người cho rằng mọi người thừa kế đều đương nhiên là thành viên, bất kể thuộc hay không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Thực tế, Điều 53 phân biệt: người thừa kế trở thành thành viên theo khoản 1, nhưng nếu không muốn tham gia, công ty phải xử lý phần vốn theo khoản 4, khoản 5; còn người được tặng cho hoặc người nhận thanh toán nợ phải được Hội đồng thành viên chấp thuận, trừ trường hợp thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Hai là, không ít trường hợp hiểu sai rằng khi không có người thừa kế thì công ty tự động sở hữu phần vốn góp; điều luật lại quy chiếu về pháp luật dân sự, nên phải xét đến cơ chế tài sản thuộc về Nhà nước hoặc chủ thể khác theo trình tự tố tụng dân sự.

Ba là, cần phân biệt rõ giữa việc “ai thực hiện quyền và nghĩa vụ” và “ai là chủ sở hữu phần vốn góp”. Người quản lý tài sản của người mất tích hoặc người đại diện của người mất năng lực hành vi chỉ là chủ thể thực hiện quyền thay, không làm thay đổi chủ thể sở hữu phần vốn. Bốn là, đối với trường hợp bị cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh, điều luật không đòi hỏi ngay lập tức chuyển nhượng phần vốn góp, nhưng buộc phải điều chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty, nếu không sẽ phát sinh rủi ro bị xử lý vi phạm, kể cả trách nhiệm hình sự và hành chính.

Người thừa kế có bắt buộc phải trở thành thành viên công ty khi người để lại phần vốn góp chết không?
Không bắt buộc. Người thừa kế có quyền từ chối trở thành thành viên; khi đó phần vốn góp được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo Điều 51, Điều 52.
Người nhận tặng cho phần vốn góp có đương nhiên trở thành thành viên công ty không?
Chỉ đương nhiên trở thành thành viên nếu thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật của người tặng cho; nếu là người khác, phải được Hội đồng thành viên chấp thuận.
Người nhận phần vốn góp để thanh toán nợ có mặc nhiên là thành viên công ty không?
Không. Họ chỉ trở thành thành viên nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận; nếu không, họ có quyền chào bán, chuyển nhượng phần vốn theo Điều 52.
Nếu thành viên chết không có người thừa kế thì công ty có được tự động sở hữu phần vốn góp không?
Không. Phần vốn góp được xử lý theo quy định pháp luật dân sự về di sản không có người thừa kế, không mặc nhiên thuộc về công ty.
Thành viên đang chấp hành hình phạt tù có được tham gia quản lý công ty không?
Thành viên vẫn có quyền tài sản nhưng phải ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc toàn bộ quyền, nghĩa vụ của mình tại công ty theo Điều 53.
Mục lục văn bản