Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020: Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

Bình luận pháp lý Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020 về bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp, quyền sở hữu tài sản và tránh quốc hữu hóa.

Điều 5. Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

1. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.

2. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.

3. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản. Việc thanh toán, bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.

Ý nghĩa và mục đích của Điều 5

Điều 5 đặt ra cam kết ở mức độ luật định về việc Nhà nước tôn trọng và bảo vệ sự tồn tại lâu dài của các loại hình doanh nghiệp, bất kể hình thức sở hữu hay thành phần kinh tế. Quy định này nhằm tạo nền tảng ổn định, dự đoán được cho nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp khi quyết định bỏ vốn kinh doanh. Đồng thời, điều luật khẳng định tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh, tức lợi nhuận thu được hợp pháp không bị xem là tiêu cực, cần bị hạn chế.

Các trọng tâm cần nắm khi áp dụng điều luật

Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật giữa các doanh nghiệp là trọng tâm: cơ quan nhà nước không được ban hành, áp dụng chính sách, biện pháp phân biệt đối xử theo loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu hoặc thành phần kinh tế. Thứ hai, quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và quyền, lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu được Nhà nước công nhận và bảo hộ, nghĩa là mọi hành vi xâm phạm từ phía cá nhân, tổ chức hay cơ quan công quyền đều phải được xử lý và bồi thường theo pháp luật. Thứ ba, tài sản, vốn đầu tư hợp pháp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính, trừ trường hợp trưng mua, trưng dụng theo đúng trình tự, thủ tục và chế độ bồi thường của pháp luật chuyên ngành.

Điều kiện “kích hoạt” sự bảo vệ của Điều 5

Điều 5 bảo vệ tài sản, vốn đầu tư, thu nhập hợp pháp, nên điều kiện tiên quyết là tính hợp pháp của nguồn vốn, tài sản và hoạt động tạo ra thu nhập. Nếu tài sản có nguồn gốc phạm tội hoặc thu nhập từ hoạt động bị cấm theo luật chuyên ngành, thì không nằm trong phạm vi bảo hộ của điều khoản này. Ngoài ra, để áp dụng nội dung về trưng mua, trưng dụng, cần có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong trường hợp thật cần thiết và theo quy trình quy định tại pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản (ví dụ Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và các văn bản hướng dẫn).

Cách hiểu sai thường gặp và phân biệt quan trọng

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng Điều 5 tạo ra “bảo đảm tuyệt đối” cho mọi tài sản, thu nhập của doanh nghiệp, kể cả hoạt động vi phạm pháp luật, trốn thuế, rửa tiền hoặc kinh doanh ngành nghề bị cấm. Trên thực tế, điều luật chỉ bảo hộ trong phạm vi hợp pháp; các tài sản, thu nhập bất hợp pháp vẫn bị tịch thu, xử lý theo pháp luật hình sự, hành chính, thuế. Một nhầm lẫn khác là cho rằng Nhà nước không được thu hồi, hạn chế tài sản doanh nghiệp trong bất kỳ trường hợp nào; điều luật thực tế chỉ loại trừ quốc hữu hóa và tịch thu bằng biện pháp hành chính, còn các biện pháp kê biên, phong tỏa, xử lý tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án vẫn được phép nếu có căn cứ pháp luật.

Lưu ý khi áp dụng trong tình huống cụ thể

Khi doanh nghiệp cho rằng mình bị phân biệt đối xử (ví dụ khi tiếp cận đất đai, tín dụng, ưu đãi thuế hoặc giấy phép), có thể viện dẫn nguyên tắc bình đẳng trong Điều 5 để yêu cầu cơ quan nhà nước giải thích, điều chỉnh chính sách hoặc khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính liên quan. Trong trường hợp tài sản bị tạm giữ, tịch thu, thu hồi, cần đối chiếu xem biện pháp đó thuộc loại tịch thu hành chính bị Điều 5 giới hạn, hay là biện pháp tư pháp, thi hành án được quy định cụ thể trong luật khác. Đối với trưng mua, trưng dụng, doanh nghiệp cần kiểm tra thẩm quyền cơ quan ban hành, tính “trường hợp thật cần thiết”, phương thức xác định giá, mức thanh toán, bồi thường để đảm bảo không bị phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.

Điều 5 có bảo vệ tài sản hình thành từ hoạt động kinh doanh bất hợp pháp không?
Không. Điều 5 chỉ bảo đảm tài sản, vốn, thu nhập hợp pháp; tài sản, thu nhập bất hợp pháp vẫn bị xử lý, tịch thu theo luật chuyên ngành.
Nhà nước có được quốc hữu hóa doanh nghiệp theo Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020 không?
Điều 5 quy định tài sản, vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu không bị quốc hữu hóa, trừ trường hợp trưng mua, trưng dụng theo luật.
Doanh nghiệp bị tịch thu tài sản do xử phạt vi phạm hành chính có thể viện dẫn Điều 5 để yêu cầu trả lại không?
Chỉ khi biện pháp tịch thu trái luật hoặc vượt phạm vi cho phép; Điều 5 không loại trừ các biện pháp xử lý tài sản có căn cứ pháp lý rõ ràng.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trong Điều 5 được áp dụng như thế nào trong ưu đãi đầu tư?
Ưu đãi đầu tư phải dựa trên tiêu chí pháp luật quy định, không phân biệt chỉ vì loại hình doanh nghiệp hay thành phần kinh tế, tránh đối xử thiên lệch.
Khi doanh nghiệp bị trưng mua tài sản, cần chú ý gì để bảo vệ quyền lợi theo Điều 5?
Doanh nghiệp cần kiểm tra thẩm quyền, lý do trưng mua, phương pháp định giá và mức bồi thường, đảm bảo thanh toán đầy đủ, không phân biệt giữa các loại hình.
Mục lục văn bản