Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020: Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
Bình luận Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020 về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, thời điểm hoàn thành nghĩa vụ góp vốn và lưu ý thực tiễn.
Điều 35. Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty theo quy định của pháp luật. Việc chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản, trừ trường hợp được thực hiện thông qua tài khoản.
2. Biên bản giao nhận tài sản góp vốn phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân, số giấy tờ pháp lý của tổ chức của người góp vốn;
c) Loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty;
d) Ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc người đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty.
3. Việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
4. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp.
5. Việc thanh toán đối với mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp, nhận cổ tức và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của nhà đầu tư nước ngoài đều phải được thực hiện thông qua tài khoản theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, trừ trường hợp thanh toán bằng tài sản và hình thức khác không bằng tiền mặt.
Trọng tâm của Điều 35: từ cam kết góp vốn đến chuyển quyền sở hữu hợp pháp
Điều 35 xác lập nguyên tắc nền tảng: nghĩa vụ góp vốn chỉ được coi là hoàn thành khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty, theo khoản 3 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020. Quy định này phân biệt rõ cam kết góp vốn trên giấy tờ với việc thực sự đưa tài sản vào quyền sở hữu của công ty. Từ đó, vốn điều lệ được bảo đảm bằng tài sản cụ thể, hạn chế tình trạng “vốn ảo” trên đăng ký kinh doanh.
Yêu cầu về hình thức chuyển quyền đối với từng loại tài sản
Tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất
Đối với tài sản bắt buộc đăng ký như ô tô, tàu, bất động sản hoặc quyền sử dụng đất, người góp vốn phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất sang công ty theo pháp luật chuyên ngành. Việc không hoàn tất thủ tục đăng ký làm phát sinh rủi ro: công ty không trở thành chủ sở hữu/được sử dụng hợp pháp, trong khi thành viên vẫn bị coi là chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn. Lưu ý quan trọng là giao dịch góp vốn bằng nhóm tài sản này được miễn lệ phí trước bạ, giúp giảm chi phí khi tăng vốn bằng tài sản.
Tài sản không đăng ký quyền sở hữu
Đối với tài sản không thuộc diện đăng ký (máy móc, thiết bị, hàng hóa, nguyên vật liệu...), việc góp vốn được ghi nhận bằng giao nhận thực tế và biên bản xác nhận. Biên bản giao nhận là chứng cứ trung tâm chứng minh việc chuyển giao, đặc biệt khi xảy ra tranh chấp về việc đã góp vốn hay chưa. Ngoại lệ là trường hợp góp vốn thông qua tài khoản (ví dụ chuyển tiền, hoặc thanh toán qua ngân hàng), khi đó chứng từ giao dịch tài khoản giữ vai trò chứng minh.
Biên bản giao nhận tài sản góp vốn: chức năng chứng cứ và quản trị
Khoản 2 Điều 35 quy định chi tiết các nội dung chủ yếu của biên bản giao nhận tài sản góp vốn: thông tin công ty, thông tin người góp vốn, loại và số lượng tài sản, giá trị và tỷ lệ trong vốn điều lệ, ngày giao nhận, chữ ký các bên. Các thông tin này không chỉ phục vụ chứng minh cho việc đã góp vốn mà còn hỗ trợ công tác kế toán, quản trị nội bộ và xác định quyền, lợi ích tương ứng với phần vốn góp. Thiếu biên bản hoặc biên bản lập không đúng thực tế là nguyên nhân thường gặp dẫn tới tranh chấp về giá trị phần vốn góp và trách nhiệm thành viên.
Thời điểm hoàn tất nghĩa vụ góp vốn và hệ quả pháp lý
Điều 35 nhấn mạnh thời điểm “thanh toán xong” góp vốn gắn với việc chuyển quyền sở hữu hợp pháp, không chỉ đơn thuần là thỏa thuận hoặc hứa hẹn. Nếu thành viên chưa hoàn tất chuyển quyền, công ty có thể xử lý theo các quy định về chậm góp vốn, điều chỉnh vốn điều lệ, hoặc xử lý tư cách thành viên tùy loại hình doanh nghiệp và điều lệ. Ngược lại, sau khi quyền sở hữu đã chuyển sang công ty, tài sản thuộc khối tài sản của pháp nhân công ty, thành viên không còn quyền sở hữu trực tiếp, chỉ còn quyền tương ứng với phần vốn góp.
Đặc thù đối với doanh nghiệp tư nhân
Khoản 4 Điều 35 quy định tài sản sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ bản chất doanh nghiệp tư nhân không phải pháp nhân, tài sản doanh nghiệp là tài sản của chính chủ doanh nghiệp. Do đó, không đặt vấn đề “chuyển quyền sở hữu” giữa hai chủ thể khác nhau, mà chỉ là sử dụng tài sản của cá nhân vào kinh doanh.
Thanh toán góp vốn, chuyển nhượng vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Khoản 5 Điều 35 liên kết chặt chẽ với pháp luật quản lý ngoại hối khi quy định mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, nhận cổ tức và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thông qua tài khoản, trừ trường hợp thanh toán bằng tài sản hoặc hình thức không bằng tiền mặt. Quy định này hướng đến minh bạch dòng tiền, kiểm soát ngoại hối và hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi hoạt động đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài cần thiết lập và sử dụng đúng loại tài khoản theo luật ngoại hối, nếu không việc chuyển nhượng vốn hoặc chuyển lợi nhuận có thể bị coi là không đúng thủ tục.
Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần đăng ký vốn điều lệ và ghi nhận phần vốn góp trên điều lệ hoặc sổ đăng ký là đã hoàn tất nghĩa vụ góp vốn. Trên thực tế, Điều 35 yêu cầu có thêm bước chuyển quyền sở hữu tài sản (đối với tài sản hữu hình, quyền sử dụng đất, tài sản đăng ký) hoặc chứng minh giao nhận thực tế. Một nhầm lẫn khác là coi việc lập biên bản giao nhận chỉ là thủ tục hình thức; khi xảy ra tranh chấp, thiếu hoặc sai biên bản khiến bên góp vốn khó chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ. Cuối cùng, với nhà đầu tư nước ngoài, thanh toán không qua tài khoản theo quy định ngoại hối dẫn tới rủi ro lớn về việc không được công nhận hợp pháp, ảnh hưởng đến quyền chuyển lợi nhuận và thoái vốn.