Điều 199 Luật Doanh nghiệp 2020: Tách công ty

Phân tích pháp lý Điều 199 Luật Doanh nghiệp 2020 về tách công ty, trách nhiệm liên đới và lưu ý thực tiễn khi tái cấu trúc doanh nghiệp.

Điều 199. Tách công ty

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, thành viên, cổ đông của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mới (sau đây gọi là công ty được tách) mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách.

2. Công ty bị tách phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, số lượng thành viên, cổ đông tương ứng với phần vốn góp, cổ phần và số lượng thành viên, cổ đông giảm xuống (nếu có); đồng thời đăng ký doanh nghiệp đối với các công ty được tách.

3. Thủ tục tách công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được quy định như sau:

a) Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông của công ty bị tách thông qua nghị quyết, quyết định tách công ty theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. Nghị quyết, quyết định tách công ty phải gồm các nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị tách; tên công ty được tách sẽ thành lập; phương án sử dụng lao động; cách thức tách công ty; giá trị tài sản, quyền và nghĩa vụ được chuyển từ công ty bị tách sang công ty được tách; thời hạn thực hiện tách công ty. Nghị quyết, quyết định tách công ty phải được gửi đến tất cả chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định hoặc thông qua nghị quyết;

b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc cổ đông của công ty được tách thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật này.

4. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty được tách, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thỏa thuận khác. Các công ty được tách đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp được phân chia theo nghị quyết, quyết định tách công ty.

Bản chất pháp lý và mục tiêu của tách công ty

Tách công ty theo Điều 199 là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, cho phép phân chia một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, thành viên, cổ đông để lập công ty mới, nhưng vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của công ty bị tách. Khác với chia, giải thể hay hợp nhất, điểm cốt lõi là công ty bị tách tiếp tục tồn tại, qua đó bảo đảm tính liên tục của hoạt động kinh doanh, hợp đồng, quan hệ với đối tác. Mục tiêu lập pháp là tạo công cụ linh hoạt để doanh nghiệp tái cấu trúc mảng kinh doanh, quản trị rủi ro và tổ chức nhóm công ty mà không phá vỡ hoàn toàn chủ thể pháp lý ban đầu.

Điều kiện và phạm vi áp dụng

Điều 199 chỉ áp dụng cho công ty trách nhiệm hữu hạncông ty cổ phần; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân không thuộc phạm vi điều chỉnh. Điều luật yêu cầu có sự chuyển giao một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và thành viên/cổ đông từ công ty bị tách sang một hoặc nhiều công ty mới, đồng thời phải đăng ký doanh nghiệp cho các công ty được tách và điều chỉnh lại vốn điều lệ, số lượng thành viên, cổ đông của công ty bị tách. Nếu không có sự chuyển giao kèm đăng ký thay đổi và đăng ký công ty mới, giao dịch chỉ là điều chỉnh nội bộ, không cấu thành tách công ty theo Điều 199.

Thủ tục quyết định và đăng ký tách công ty

Điểm trọng tâm về thủ tục là yêu cầu có nghị quyết/quyết định tách công ty được thông qua đúng thẩm quyền: Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông, tùy loại hình doanh nghiệp. Nghị quyết phải thể hiện tối thiểu các nội dung: tên, địa chỉ công ty bị tách; tên công ty được tách; phương án sử dụng lao động; cách thức tách; giá trị tài sản, quyền, nghĩa vụ chuyển giao; thời hạn thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định phạm vi kế thừa quyền, nghĩa vụ giữa các bên. Việc gửi nghị quyết/quyết định cho chủ nợ và thông báo cho người lao động trong 15 ngày là điều kiện bảo đảm minh bạch, hạn chế xâm hại lợi ích của bên thứ ba và tránh tranh chấp về sau.

Trách nhiệm liên đới và kế thừa nghĩa vụ

Quy định về trách nhiệm liên đới sau tách là điểm cần đặc biệt lưu ý khi áp dụng. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ, nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác phát sinh trước thời điểm tách, trừ khi có thỏa thuận khác với chủ nợ, khách hàng, người lao động. Điều này nhằm bảo vệ tối đa chủ nợ và bên thứ ba, tránh việc dùng tách công ty để trốn tránh nghĩa vụ. Đồng thời, các công ty được tách đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp theo phân chia trong nghị quyết tách, nên việc soạn thảo nghị quyết phải chi tiết, rõ ràng để xác định chính xác chủ thể chịu trách nhiệm trong từng quan hệ pháp lý cụ thể.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý thực tiễn

Một nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất tách công ty với chia công ty hoặc hiểu tách là một dạng chuyển nhượng dự án đơn thuần. Chia công ty làm chấm dứt tồn tại công ty bị chia, trong khi tách không làm chấm dứt công ty bị tách; đây là điểm phân biệt cần nắm vững khi lựa chọn phương án tổ chức lại. Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ cần nội bộ các thành viên, cổ đông đồng ý là đủ, mà bỏ qua nghĩa vụ thông báo cho chủ nợ, người lao động và thủ tục đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong thực tiễn, nếu bỏ qua các bước này, giao dịch tách có nguy cơ bị cơ quan nhà nước từ chối đăng ký hoặc phát sinh tranh chấp với chủ nợ về việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm.

Về thực tiễn áp dụng, doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ phương án sử dụng lao động để tránh rủi ro pháp lý về đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc thay đổi điều kiện làm việc trái luật. Trước khi tách, cần rà soát hệ thống hợp đồng, nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ đối với cơ quan nhà nước và bên thứ ba, đối chiếu với nội dung nghị quyết tách để đảm bảo không bỏ sót nghĩa vụ, không chuyển giao vượt quá phạm vi được các bên liên quan chấp nhận. Đối với nhóm công ty, việc tách một mảng kinh doanh rủi ro sang công ty mới cần gắn với thỏa thuận rõ ràng với chủ nợ, nếu không, trách nhiệm liên đới sẽ tiếp tục ràng buộc cả công ty bị tách và công ty được tách trong thời gian dài.

Tách công ty theo Điều 199 có làm chấm dứt tư cách pháp nhân của công ty bị tách không?
Không. Công ty bị tách vẫn tiếp tục tồn tại, chỉ chuyển một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, thành viên, cổ đông sang công ty mới.
Khi tách công ty, có bắt buộc phải thông báo cho chủ nợ và người lao động không?
Có. Nghị quyết, quyết định tách phải được gửi cho chủ nợ và thông báo cho người lao động trong 15 ngày kể từ ngày thông qua.
Sau khi tách, ai chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán của công ty bị tách?
Công ty bị tách và công ty được tách cùng liên đới chịu trách nhiệm, trừ khi có thỏa thuận khác với chủ nợ, khách hàng, người lao động.
Tách công ty có áp dụng cho công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân không?
Không. Điều 199 chỉ điều chỉnh việc tách đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp 2020.
Nghị quyết tách công ty cần chứa những nội dung trọng yếu nào?
Cần có thông tin về công ty bị tách, công ty được tách, phương án lao động, cách thức tách, giá trị tài sản, quyền, nghĩa vụ chuyển giao và thời hạn thực hiện.
Mục lục văn bản