Điều 184 Luật Doanh nghiệp 2020: Điều hành kinh doanh của công ty hợp danh
Bình luận pháp lý Điều 184 Luật Doanh nghiệp 2020 về điều hành kinh doanh, đại diện và trách nhiệm của thành viên hợp danh.
Điều 184. Điều hành kinh doanh của công ty hợp danh
1. Các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.
2. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.
Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số chấp thuận.
Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận.
3. Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ định thành viên được ủy quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó.
4. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các nghĩa vụ sau đây:
a) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh;
b) Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên;
c) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh;
d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;
đ) Đại diện cho công ty với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án; đại diện cho công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
e) Nghĩa vụ khác do Điều lệ công ty quy định.
Vị trí trung tâm của thành viên hợp danh trong điều hành
Điều 184 khẳng định thành viên hợp danh vừa là người đại diện theo pháp luật, vừa trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Cấu trúc này phản ánh bản chất công ty hợp danh là loại hình gắn chặt uy tín, nhân thân của thành viên hợp danh với hoạt động doanh nghiệp. Việc quản lý không tách bạch như công ty cổ phần hay công ty TNHH, mà gắn trực tiếp với trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh.
Hiệu lực của hạn chế quyền đối với bên thứ ba
Quy định về hạn chế quyền thành viên hợp danh trong kinh doanh hằng ngày chỉ có hiệu lực với bên thứ ba khi bên thứ ba biết rõ hạn chế đó. Trọng tâm là bảo vệ giao dịch hợp pháp, thiện chí của bên ngoài, tránh trường hợp công ty viện lý do nội bộ để từ chối thực hiện nghĩa vụ với đối tác. Khi áp dụng, cần chứng minh được việc bên thứ ba đã biết hoặc phải biết về hạn chế, thay vì chỉ viện dẫn điều lệ hoặc nghị quyết nội bộ.
Phân công quản lý, cơ chế quyết định đa số
Các thành viên hợp danh được phân công đảm nhiệm chức danh quản lý, kiểm soát nhưng vẫn cùng chia sẻ trách nhiệm điều hành. Khi nhiều thành viên cùng thực hiện một công việc kinh doanh, quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số chấp thuận. Cơ chế này vừa tạo linh hoạt trong quản trị, vừa là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ của quyết định nội bộ khi phát sinh tranh chấp về thẩm quyền hoặc tính chính đáng của hành vi đại diện.
Giới hạn trách nhiệm đối với hoạt động ngoài phạm vi kinh doanh
Điều luật nhấn mạnh mọi hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ khi được các thành viên còn lại chấp thuận. Trọng tâm áp dụng là xác định rõ phạm vi kinh doanh theo điều lệ và thực tiễn hoạt động, để phân biệt nghĩa vụ phát sinh cho công ty hay chỉ cho cá nhân thành viên. Sai lầm thường gặp là mặc nhiên coi mọi giao dịch do thành viên hợp danh ký kết đều ràng buộc công ty, bỏ qua việc đối chiếu với phạm vi hoạt động đã đăng ký và được chấp thuận.
Quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài khoản ngân hàng
Công ty có thể mở nhiều tài khoản ngân hàng, nhưng Hội đồng thành viên phải chỉ định rõ thành viên được ủy quyền gửi, rút tiền. Điểm mấu chốt là nội dung ủy quyền cần thể hiện bằng văn bản, phù hợp điều lệ, để tránh tranh chấp nội bộ hoặc tranh chấp với ngân hàng về tính hợp lệ của lệnh chuyển tiền. Trong thực tế, việc phân quyền tài chính là một trong các nội dung cần được cụ thể hóa trong điều lệ và nghị quyết để hạn chế rủi ro lạm quyền.
Vai trò của Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng giám đốc
Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong công ty hợp danh thực hiện nghĩa vụ quản lý, điều hành với tư cách thành viên hợp danh, không phải một người quản lý thuê chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn. Các nghĩa vụ về triệu tập họp, ký nghị quyết, phân công công việc, tổ chức kế toán, lưu giữ chứng từ và đại diện trước Tòa án, Trọng tài đều là tiêu chuẩn đánh giá trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm nghĩa vụ quản lý. Điều lệ công ty nên quy định rõ tiêu chí, quy trình thực hiện các nghĩa vụ này để làm căn cứ xử lý trách nhiệm khi có thiệt hại phát sinh.
Nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng
Nhầm lẫn phổ biến là coi Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc trong công ty hợp danh tương tự như chức danh trong công ty TNHH hoặc cổ phần, từ đó đánh giá sai về mức độ trách nhiệm cá nhân. Cũng cần tránh hiểu nhầm rằng mọi thỏa thuận hạn chế quyền thành viên hợp danh đều đương nhiên ràng buộc bên thứ ba, trong khi điều luật chỉ thừa nhận hiệu lực nếu bên thứ ba biết về hạn chế đó. Khi áp dụng Điều 184 vào tình huống cụ thể, cần đối chiếu: nội dung điều lệ, phạm vi đăng ký kinh doanh, nghị quyết Hội đồng thành viên về phân công, ủy quyền và chứng cứ thể hiện nhận thức của bên thứ ba để xác định đúng trách nhiệm công ty và từng thành viên hợp danh.