Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020: Giám đốc, Tổng giám đốc công ty
Bình luận Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020 về vị trí, quyền hạn, trách nhiệm và tiêu chuẩn của Giám đốc, Tổng giám đốc công ty cổ phần.
Điều 162. Giám đốc, Tổng giám đốc công ty
1. Hội đồng quản trị bổ nhiệm một thành viên Hội đồng quản trị hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao.
Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
3. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty mà không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
b) Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;
c) Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
d) Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty;
đ) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
e) Quyết định tiền lương và lợi ích khác đối với người lao động trong công ty, kể cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
g) Tuyển dụng lao động;
h) Kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
i) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị.
4. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với công ty và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị. Trường hợp điều hành trái với quy định tại khoản này mà gây thiệt hại cho công ty thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty.
5. Đối với công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật này thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
a) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này;
b) Không được là người có quan hệ gia đình của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên của công ty và công ty mẹ; người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại công ty và công ty mẹ;
c) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty.
1. Vị trí pháp lý của Giám đốc/Tổng giám đốc trong công ty cổ phần
Điều 162 khẳng định Giám đốc/Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị (HĐQT). Đây là cơ chế phân quyền: HĐQT quyết định định hướng, chiến lược và các vấn đề lớn; Giám đốc/Tổng giám đốc tổ chức triển khai, vận hành. Tuy nhiên, HĐQT vẫn nắm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc thuê lại, thể hiện Giám đốc/Tổng giám đốc là người quản lý do HĐQT “ủy quyền” chứ không phải chủ thể độc lập về quyền lực trong công ty.
Nhiệm kỳ tối đa 5 năm nhưng được bổ nhiệm lại không hạn chế, cho phép doanh nghiệp linh hoạt duy trì người điều hành phù hợp, đồng thời tạo chu kỳ đánh giá, tái bổ nhiệm định kỳ nhằm hạn chế rủi ro lạm quyền hoặc quản trị yếu kém kéo dài.
2. Ranh giới thẩm quyền với Hội đồng quản trị
Điều luật thiết lập nguyên tắc: Giám đốc/Tổng giám đốc quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày mà không thuộc thẩm quyền HĐQT. Điều này có hai hệ quả quan trọng. Thứ nhất, Điều lệ công ty và nghị quyết HĐQT phải được thiết kế rõ, liệt kê cụ thể các vấn đề thuộc thẩm quyền HĐQT (ví dụ: đầu tư, vay nợ, bảo lãnh, mua bán tài sản vượt ngưỡng giá trị). Thứ hai, phần “còn lại” mới thuộc phạm vi điều hành thường xuyên của Giám đốc/Tổng giám đốc.
Cách hiểu sai thường gặp là coi Giám đốc/Tổng giám đốc có thể “đại diện toàn diện” cho công ty trong mọi giao dịch. Trên thực tế, nếu Điều lệ/HĐQT yêu cầu những quyết định nhất định phải được HĐQT thông qua trước, việc Giám đốc/Tổng giám đốc tự ý quyết định có nguy cơ vượt quá thẩm quyền nội bộ, kéo theo trách nhiệm cá nhân và rủi ro về hiệu lực giao dịch trong nội bộ công ty.
3. Hệ thống quyền và nghĩa vụ mang tính “tổ chức – vận hành”
Các quyền, nghĩa vụ được liệt kê cho Giám đốc/Tổng giám đốc tập trung vào việc tổ chức thực hiện: nghị quyết HĐQT, kế hoạch kinh doanh, phương án đầu tư, cơ cấu tổ chức, quy chế nội bộ, nhân sự quản lý cấp dưới, tiền lương và tuyển dụng lao động. Điều này cho thấy Giám đốc/Tổng giám đốc là “trung tâm điều phối” giữa chiến lược (HĐQT) và đội ngũ thực thi (bộ máy nhân sự).
Đáng chú ý, quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý chỉ giới hạn đối với các chức danh không thuộc thẩm quyền HĐQT. Khi áp dụng, cần đối chiếu Điều lệ và nghị quyết HĐQT để xác định cụ thể những chức danh nào Giám đốc/Tổng giám đốc được quyết định. Tránh nhầm lẫn rằng Giám đốc/Tổng giám đốc có quyền nhân sự tuyệt đối đối với toàn bộ bộ máy công ty.
4. Trách nhiệm cá nhân và chuẩn mực điều hành
Khoản 4 nhấn mạnh chuẩn mực điều hành: Giám đốc/Tổng giám đốc phải thực hiện công việc theo pháp luật, Điều lệ, hợp đồng lao động và nghị quyết/quyết định HĐQT. Đây là “khung nhiệm vụ” để đánh giá hành vi điều hành đúng hay sai, là cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm pháp lý khác.
Nếu điều hành trái với các chuẩn mực này và gây thiệt hại cho công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại cho công ty. Lưu ý: trách nhiệm ở đây không chỉ dừng ở trách nhiệm vật chất, mà còn mở đường cho việc xem xét trách nhiệm dân sự, hành chính, thậm chí hình sự tùy tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả.
5. Tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù đối với công ty đại chúng, DNNN và công ty con của DNNN
Khoản 5 đặt ra tiêu chuẩn chặt chẽ hơn đối với Giám đốc/Tổng giám đốc của công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo Điều 88. Mục tiêu là hạn chế xung đột lợi ích và nâng cao chất lượng quản trị. Ba nhóm điều kiện đáng chú ý gồm: không thuộc trường hợp bị cấm theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020; không là người có quan hệ gia đình với người quản lý, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước/phần vốn doanh nghiệp tại công ty mẹ; có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản trị.
Cách hiểu sai thường gặp là xem các tiêu chuẩn này áp dụng cho mọi công ty cổ phần. Thực tế, chúng chỉ áp dụng bắt buộc với các chủ thể được liệt kê (công ty đại chúng, DNNN, công ty con DNNN). Tuy nhiên, nhiều công ty cổ phần tư nhân vẫn lựa chọn “tự áp dụng” các tiêu chuẩn tương tự trong Điều lệ để nâng cao quản trị và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
6. Một số lưu ý thực tiễn khi áp dụng
a) Về bổ nhiệm và hợp đồng với Giám đốc/Tổng giám đốc
Giám đốc/Tổng giám đốc có thể là thành viên HĐQT hoặc người được thuê. Khi là người được thuê, cần ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng quản lý với điều khoản phù hợp với quy định lao động và Điều lệ, đồng thời thể hiện rõ phạm vi quyền hạn, cơ chế ủy quyền, điều kiện miễn nhiệm, chấm dứt. Việc này giúp làm rõ căn cứ xử lý khi phát sinh tranh chấp về thù lao, thưởng, trách nhiệm bồi thường.
b) Về phân cấp thẩm quyền và kiểm soát rủi ro
Điều 162 chỉ vạch “khung” thẩm quyền. Để áp dụng hiệu quả, HĐQT cần ban hành quy chế phân cấp cụ thể: hạn mức ký kết hợp đồng, thẩm quyền quyết định chi tiêu, các giao dịch bắt buộc phải xin ý kiến hoặc phê duyệt trước. Nếu không, rất khó xác định ranh giới giữa thẩm quyền hợp pháp và hành vi vượt quyền của Giám đốc/Tổng giám đốc khi xảy ra tranh chấp.
c) Về mối quan hệ với pháp luật lao động và pháp luật chứng khoán
Giám đốc/Tổng giám đốc đồng thời là người lao động quản lý, nên song song chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động (về hợp đồng, tiền lương, kỷ luật, chấm dứt…) và Luật Doanh nghiệp (về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý). Đối với công ty đại chúng, còn phải tuân thủ quy định của pháp luật chứng khoán và quản trị công ty niêm yết về tiêu chuẩn, công bố thông tin, giao dịch với người có liên quan. Khi xử lý tình huống cụ thể, cần xem xét tổng thể các hệ thống pháp luật này, không chỉ dừng ở Điều 162.