Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2020: Cuộc họp Hội đồng quản trị

Bình luận pháp lý Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2020 về cuộc họp Hội đồng quản trị, điều kiện tiến hành và hiệu lực nghị quyết.

Điều 157. Cuộc họp Hội đồng quản trị

1. Chủ tịch Hội đồng quản trị được bầu trong cuộc họp đầu tiên của Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc bầu cử Hội đồng quản trị đó. Cuộc họp này do thành viên có số phiếu bầu cao nhất hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất triệu tập và chủ trì. Trường hợp có nhiều hơn một thành viên có số phiếu bầu hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất và ngang nhau thì các thành viên bầu theo nguyên tắc đa số để chọn 01 người trong số họ triệu tập họp Hội đồng quản trị.

2. Hội đồng quản trị họp ít nhất mỗi quý một lần và có thể họp bất thường.

3. Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập họp Hội đồng quản trị trong trường hợp sau đây:

a) Có đề nghị của Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập Hội đồng quản trị;

b) Có đề nghị của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc ít nhất 05 người quản lý khác;

c) Có đề nghị của ít nhất 02 thành viên Hội đồng quản trị;

d) Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

4. Đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ mục đích, vấn đề cần thảo luận và quyết định thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị.

5. Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này. Trường hợp không triệu tập họp Hội đồng quản trị theo đề nghị thì Chủ tịch Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra đối với công ty; người đề nghị có quyền thay thế Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập họp Hội đồng quản trị.

6. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người triệu tập họp Hội đồng quản trị phải gửi thông báo mời họp chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày họp nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Thông báo mời họp phải xác định cụ thể thời gian và địa điểm họp, chương trình, các vấn đề thảo luận và quyết định. Kèm theo thông báo mời họp phải có tài liệu sử dụng tại cuộc họp và phiếu biểu quyết của thành viên.

Thông báo mời họp Hội đồng quản trị có thể gửi bằng giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện tử hoặc phương thức khác do Điều lệ công ty quy định và bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc của từng thành viên Hội đồng quản trị được đăng ký tại công ty.

7. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người triệu tập gửi thông báo mời họp và các tài liệu kèm theo đến các Kiểm soát viên như đối với các thành viên Hội đồng quản trị.

Kiểm soát viên có quyền dự các cuộc họp Hội đồng quản trị; có quyền thảo luận nhưng không được biểu quyết.

8. Cuộc họp Hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp. Trường hợp cuộc họp được triệu tập theo quy định tại khoản này không đủ số thành viên dự họp theo quy định thì được triệu tập lần thứ hai trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thời hạn khác ngắn hơn. Trường hợp này, cuộc họp được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp.

9. Thành viên Hội đồng quản trị được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp trong trường hợp sau đây:

a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;

b) Ủy quyền cho người khác đến dự họp và biểu quyết theo quy định tại khoản 11 Điều này;

c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác;

d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử;

đ) Gửi phiếu biểu quyết bằng phương tiện khác theo quy định trong Điều lệ công ty.

10. Trường hợp gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, phiếu biểu quyết phải đựng trong phong bì dán kín và phải được chuyển đến Chủ tịch Hội đồng quản trị chậm nhất là 01 giờ trước khi khai mạc. Phiếu biểu quyết chỉ được mở trước sự chứng kiến của tất cả những người dự họp.

11. Thành viên phải tham dự đầy đủ các cuộc họp Hội đồng quản trị. Thành viên được ủy quyền cho người khác dự họp và biểu quyết nếu được đa số thành viên Hội đồng quản trị chấp thuận.

12. Trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định tỷ lệ khác cao hơn, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp tán thành; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Mục đích điều chỉnh và vị trí của Điều 157

Điều 157 quy định cơ chế tổ chức cuộc họp Hội đồng quản trị (HĐQT) như một cấu phần trung tâm bảo đảm HĐQT hoạt động liên tục, minh bạch và có trách nhiệm. Các yêu cầu về thời hạn, trình tự triệu tập, điều kiện tiến hành và cách thức biểu quyết nhằm hạn chế tình trạng chủ tịch HĐQT hoặc một nhóm thành viên chi phối, trì hoãn hoặc thao túng quá trình ra quyết định. Quy định cũng tạo khung pháp lý để cổ đông, ban kiểm soát, giám đốc và thành viên HĐQT giám sát lẫn nhau thông qua các quyền đề nghị họp và tham dự.

Trọng tâm: quyền triệu tập và trách nhiệm của Chủ tịch HĐQT

Khoản 1 và khoản 3, 5 nhấn mạnh vai trò trung tâm của Chủ tịch HĐQT trong việc tổ chức các cuộc họp nhưng đồng thời đặt ra cơ chế kiểm soát quyền lực. Chủ tịch phải được bầu trong cuộc họp đầu tiên của HĐQT trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc bầu cử HĐQT, bảo đảm HĐQT sớm có người điều phối hoạt động. Chủ tịch có nghĩa vụ triệu tập họp định kỳ (ít nhất mỗi quý một lần) và bất thường khi có đề nghị hợp lệ từ ban kiểm soát, thành viên độc lập, giám đốc/tổng giám đốc, ít nhất 05 người quản lý hoặc ít nhất 02 thành viên HĐQT. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không triệu tập theo đề nghị là cơ chế buộc Chủ tịch phải hành động phù hợp lợi ích công ty, không được trì hoãn nhằm né tránh giám sát hoặc quyết định bất lợi cho mình.

Các điều kiện “kích hoạt” cuộc họp HĐQT

Yêu cầu về đề nghị họp bằng văn bản

Khoản 4 yêu cầu mọi đề nghị triệu tập họp HĐQT theo khoản 3 phải lập bằng văn bản, nêu rõ mục đích, vấn đề cần thảo luận và quyết định thuộc thẩm quyền HĐQT. Điều này bảo đảm Chủ tịch HĐQT có căn cứ rõ ràng để xem xét, đồng thời tạo chứng cứ nếu phát sinh tranh chấp về việc từ chối hoặc chậm triệu tập họp. Văn bản đề nghị cũng giúp xác định phạm vi chương trình nghị sự, tránh việc lợi dụng cuộc họp để đưa thêm vấn đề ngoài dự kiến mà các thành viên chưa được chuẩn bị.

Thời hạn và hình thức thông báo mời họp

Khoản 6, 7 đặt ra thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc trước ngày họp để gửi thông báo, trừ khi Điều lệ quy định khác, nhằm bảo đảm các thành viên HĐQT và Kiểm soát viên có thời gian nghiên cứu tài liệu. Thông báo phải ghi rõ thời gian, địa điểm, chương trình, nội dung thảo luận và quyết định, kèm tài liệu sử dụng tại cuộc họp và phiếu biểu quyết. Hình thức gửi được mở rộng (giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện tử, phương thức khác theo Điều lệ) để phù hợp thực tiễn quản trị hiện đại, miễn bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc đã đăng ký. Lưu ý thực tiễn là doanh nghiệp cần lưu trữ chứng cứ về việc gửi và nhận thông báo (email, biên bản giao nhận, nhật ký hệ thống) để chứng minh tính hợp lệ của cuộc họp nếu bị tranh chấp.

Điều kiện tiến hành họp và tính hợp lệ của nghị quyết

Tỷ lệ tham dự và lần triệu tập thứ hai

Khoản 8 quy định nguyên tắc về tỷ lệ tham dự (quorum) nhằm bảo đảm nghị quyết được thông qua với sự tham gia đủ rộng của HĐQT. Lần triệu tập thứ nhất chỉ được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên HĐQT trở lên dự họp; nếu không đủ, được triệu tập lần thứ hai trong 07 ngày, và lần này chỉ cần hơn một nửa số thành viên dự họp. Điều lệ công ty có thể quy định thời hạn khác ngắn hơn cho lần triệu tập thứ hai, song không được hạ thấp hơn tỷ lệ tham dự tối thiểu luật đặt ra. Sai lầm hay gặp là doanh nghiệp chỉ căn cứ vào tỷ lệ biểu quyết mà bỏ qua kiểm tra tỷ lệ tham dự; trong khi thiếu quorum sẽ dẫn đến nghị quyết bị vô hiệu hoặc bị tuyên vô hiệu trong tranh chấp.

Căn cứ thông qua nghị quyết

Khoản 12 xác định nguyên tắc thông qua nghị quyết: trừ khi Điều lệ quy định tỷ lệ cao hơn, nghị quyết được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp tán thành. Đây là đa số của số người tham dự hợp lệ, không phải đa số tổng số thành viên HĐQT. Trường hợp số phiếu ngang nhau, ý kiến của Chủ tịch HĐQT là quyết định cuối cùng, thể hiện vai trò “phân xử” nhằm tránh bế tắc trong lãnh đạo. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý nếu Điều lệ quy định tỷ lệ cao hơn hoặc cơ chế khác (ví dụ yêu cầu 2/3 tổng số thành viên tán thành đối với giao dịch lớn) thì phải tuân theo, bởi luật cho phép nâng chuẩn chứ không hạ chuẩn.

Hình thức tham dự, biểu quyết linh hoạt

Khoản 9 và 10 ghi nhận đa dạng hình thức tham dự và biểu quyết, phù hợp xu hướng quản trị công ty hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh họp trực tuyến. Thành viên HĐQT được coi là tham dự và biểu quyết khi có mặt trực tiếp, ủy quyền hợp lệ, tham gia qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc gửi phiếu biểu quyết bằng thư, fax, email hoặc phương tiện khác theo Điều lệ. Đối với phiếu biểu quyết bằng thư, luật yêu cầu bỏ trong phong bì dán kín, chuyển đến Chủ tịch HĐQT chậm nhất 01 giờ trước khi khai mạc và chỉ được mở trước sự chứng kiến của tất cả người dự họp. Quy định này bảo đảm tính bí mật, tránh sửa chữa, thêm bớt phiếu và tạo niềm tin vào kết quả biểu quyết.

Quyền dự họp của Kiểm soát viên và nghĩa vụ tham dự của thành viên HĐQT

Khoản 7 quy định Kiểm soát viên được nhận thông báo mời họp và tài liệu như thành viên HĐQT, có quyền dự các cuộc họp, thảo luận nhưng không được biểu quyết. Đây là cơ chế tăng cường giám sát nội bộ, giúp ban kiểm soát hiểu đầy đủ bối cảnh quyết định của HĐQT để đánh giá tính hợp pháp, thận trọng và trung thực. Khoản 11 đặt ra nghĩa vụ tham dự đầy đủ các cuộc họp đối với thành viên HĐQT, phản ánh trách nhiệm cá nhân trong quản trị công ty. Thành viên chỉ được ủy quyền cho người khác dự họp và biểu quyết khi được đa số thành viên HĐQT chấp thuận; qua đó hạn chế việc lạm dụng ủy quyền, bảo đảm người quyết định thực sự hiểu rõ vấn đề chứ không chỉ ký tên hình thức.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Một nhầm lẫn phổ biến là coi việc Chủ tịch không triệu tập họp theo đề nghị chỉ là vi phạm nội bộ, trong khi Điều 157 quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với công ty. Nếu vì chậm triệu tập mà công ty bỏ lỡ cơ hội kinh doanh hoặc không kịp xử lý rủi ro, Chủ tịch có thể bị yêu cầu bồi thường, đồng thời là căn cứ xem xét miễn nhiệm. Nhầm lẫn thứ hai là xem nhẹ hình thức và thời hạn thông báo mời họp; trên thực tế, nhiều tranh chấp về hiệu lực nghị quyết HĐQT xoay quanh việc thông báo không đầy đủ chương trình nội dung hoặc gửi cận ngày họp khiến thành viên không kịp nghiên cứu tài liệu.

Lưu ý quan trọng trong áp dụng là doanh nghiệp nên cụ thể hóa các nội dung mở của Điều 157 trong Điều lệ, như quy định rõ cách thức chứng minh đã gửi thông báo, thời hạn rút ngắn cho lần triệu tập thứ hai, tỷ lệ biểu quyết cao hơn đối với giao dịch lớn hoặc quyết định nhạy cảm, và quy định chi tiết về ủy quyền dự họp. Đồng thời, biên bản họp HĐQT cần ghi nhận đầy đủ cách thức tham dự (trực tiếp, trực tuyến, phiếu gửi trước), số lượng thành viên, tỷ lệ biểu quyết và việc mở phiếu gửi bằng thư, làm cơ sở chắc chắn để bảo vệ nghị quyết trước tòa hoặc cơ quan quản lý khi có tranh chấp.

Nếu Chủ tịch HĐQT không triệu tập họp trong 07 ngày sau khi nhận đề nghị hợp lệ thì hậu quả pháp lý là gì?
Chủ tịch phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra đối với công ty và người đề nghị được quyền thay thế Chủ tịch triệu tập cuộc họp HĐQT.
Cuộc họp HĐQT lần đầu không đủ ba phần tư số thành viên tham dự thì có được thông qua nghị quyết không?
Không. Cuộc họp lần đầu không đủ tỷ lệ tham dự chỉ được coi là không tiến hành hợp lệ và phải triệu tập lần thứ hai theo đúng thời hạn và điều kiện luật định.
Điều lệ công ty có được phép quy định tỷ lệ biểu quyết thấp hơn đa số thành viên dự họp theo Điều 157 không?
Không. Điều lệ chỉ được phép quy định tỷ lệ cao hơn chuẩn luật đặt ra, không được hạ thấp tỷ lệ biểu quyết nhằm tránh làm suy yếu cơ chế bảo vệ cổ đông và công ty.
Kiểm soát viên dự họp HĐQT có quyền biểu quyết về nghị quyết HĐQT không?
Không. Kiểm soát viên chỉ có quyền dự họp và thảo luận như thành viên HĐQT nhưng không có quyền biểu quyết về nghị quyết hay quyết định của HĐQT.
Thành viên HĐQT ủy quyền cho người khác dự họp có cần đáp ứng điều kiện nào theo Điều 157?
Có. Việc ủy quyền chỉ hợp lệ khi được đa số thành viên HĐQT chấp thuận, tránh việc sử dụng ủy quyền tràn lan làm giảm trách nhiệm cá nhân của thành viên.
Mục lục văn bản