Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020: Cơ cấu tổ chức, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
Phân tích Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 về tiêu chuẩn, điều kiện thành viên HĐQT và thành viên độc lập, lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 155. Cơ cấu tổ chức, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
1. Thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này;
b) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
c) Thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác;
d) Đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật này thì thành viên Hội đồng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ.
2. Trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, thành viên độc lập Hội đồng quản trị theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 137 của Luật này phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó;
b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;
c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;
d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;
đ) Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ.
3. Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải thông báo với Hội đồng quản trị về việc không còn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này và đương nhiên không còn là thành viên độc lập Hội đồng quản trị kể từ ngày không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện. Hội đồng quản trị phải thông báo trường hợp thành viên độc lập Hội đồng quản trị không còn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông gần nhất hoặc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của thành viên độc lập Hội đồng quản trị có liên quan.
1. Mục đích điều chỉnh và ý nghĩa thực tiễn
Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 không chỉ nêu tiêu chuẩn hình thức của thành viên Hội đồng quản trị mà còn thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích, đặc biệt đối với thành viên độc lập. Quy định hướng đến việc chuyên nghiệp hóa quản trị công ty, bảo vệ cổ đông, nhất là cổ đông nhỏ lẻ, thông qua việc đặt ra rào cản đối với những người có quan hệ lợi ích chằng chéo. Trong doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước, điều luật còn nhằm hạn chế tình trạng “gia đình trị”, lạm dụng quyền lực trong bổ nhiệm và quản lý.
2. Trọng tâm tiêu chuẩn thành viên HĐQT thông thường
Thứ nhất, thành viên HĐQT phải không thuộc các trường hợp bị cấm theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, như người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị kết án về một số tội phạm kinh tế nhất định. Đây là điều kiện loại trừ mang tính nền tảng, áp dụng cho mọi chức danh quản lý chủ chốt trong doanh nghiệp.
Thứ hai, yêu cầu về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực kinh doanh của công ty là tiêu chí mang tính nội dung, phản ánh nhu cầu quản trị theo định hướng chuyên nghiệp. Việc pháp luật không bắt buộc thành viên HĐQT phải là cổ đông (trừ khi Điều lệ quy định khác) cho phép công ty linh hoạt mời nhân sự quản trị chuyên nghiệp, chuyên gia độc lập, tăng chất lượng điều hành.
Thứ ba, việc thừa nhận thành viên HĐQT có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công ty khác là sự dung hòa giữa nhu cầu thu hút nhân sự cấp cao và rủi ro “ôm đồm” nhiều vị trí. Tuy nhiên, khi xây dựng Điều lệ và hợp đồng với thành viên HĐQT, doanh nghiệp cần bổ sung cơ chế xử lý xung đột lợi ích và nghĩa vụ báo cáo khi tham gia nhiều HĐQT khác nhau.
Thứ tư, đối với doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước, hạn chế quan hệ gia đình với Giám đốc, Tổng giám đốc, người quản lý và người có thẩm quyền bổ nhiệm ở công ty mẹ giúp giảm nguy cơ lợi ích nhóm. Khi áp dụng, cần lưu ý khái niệm “quan hệ gia đình” được hiểu theo phạm vi cụ thể mà điều luật liệt kê, không suy rộng sang mọi quan hệ thân thích nếu không được nêu.
3. Bản chất và vai trò của thành viên độc lập HĐQT
Thành viên độc lập HĐQT là công cụ pháp lý tăng tính khách quan trong quyết định của HĐQT, nhất là tại công ty đại chúng và công ty có cơ cấu sở hữu phân tán. Điều 155 nhấn mạnh hai nhóm điều kiện: (i) độc lập về lợi ích kinh tế; và (ii) độc lập về quan hệ nhân sự, quản lý, sở hữu.
Về độc lập kinh tế, thành viên độc lập không được đang làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con; không được hưởng lương, thù lao từ công ty, ngoại trừ khoản phụ cấp dành cho thành viên HĐQT theo quy định. Điều này nhằm tránh tình trạng phụ thuộc thu nhập, dẫn đến xu hướng ủng hộ ban điều hành thay vì bảo vệ lợi ích chung.
Về độc lập về quan hệ và sở hữu, thành viên độc lập không được có vợ/chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột là cổ đông lớn hoặc là người quản lý của công ty, công ty con; không được trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu từ 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên. Ngưỡng 1% thể hiện quan điểm: chỉ cần một tỷ lệ sở hữu nhỏ nhưng đủ tạo động lực lợi ích riêng cũng đã bị loại khỏi tư cách độc lập.
Đáng chú ý, điều luật còn đặt ra khoảng thời gian “cách ly” nhất định: người từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con trong vòng 3 năm liền trước; người từng là thành viên HĐQT, Ban kiểm soát trong 5 năm liền trước (trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 2 nhiệm kỳ) đều không được coi là độc lập. Cách thiết kế này tránh việc “đổi tên ghế” nhưng bản chất vẫn là người trong bộ máy cũ.
4. Nghĩa vụ tự giám sát tư cách độc lập và hệ quả
Khoản 3 Điều 155 yêu cầu thành viên độc lập phải chủ động thông báo cho HĐQT khi mình không còn đáp ứng tiêu chuẩn độc lập, và từ thời điểm đó đương nhiên không còn là thành viên độc lập. Đây là cơ chế trách nhiệm cá nhân, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để vô hiệu hóa các đặc quyền, tỷ lệ ghế độc lập nếu điều kiện không còn.
HĐQT có nghĩa vụ thông báo với Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp gần nhất hoặc triệu tập họp để bầu bổ sung, thay thế trong 6 tháng kể từ ngày nhận thông báo. Khi áp dụng, cần phân biệt rõ: người này vẫn có thể tiếp tục là thành viên HĐQT (nếu không vi phạm tiêu chuẩn chung) nhưng không được tính vào số lượng thành viên độc lập tối thiểu theo quy định của pháp luật chuyên ngành (như pháp luật chứng khoán) hoặc Điều lệ công ty.
5. Một số nhầm lẫn thực tiễn cần tránh
Thứ nhất, không phải mọi thành viên HĐQT không là cổ đông đều đương nhiên là thành viên độc lập. Thành viên độc lập chỉ là một nhóm nhỏ trong HĐQT, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ tại khoản 2 Điều 155 và các quy định chuyên ngành liên quan.
Thứ hai, nhiều doanh nghiệp nhầm rằng chỉ cần người đó không làm việc tại công ty là đủ tư cách độc lập, bỏ qua các tiêu chí về quan hệ gia đình, tỷ lệ sở hữu hoặc việc từng giữ chức vụ quản lý/kiểm soát trong quá khứ. Việc không rà soát đầy đủ có thể dẫn đến vi phạm tỷ lệ thành viên độc lập tối thiểu, kéo theo rủi ro bị cơ quan quản lý hoặc cổ đông khiếu kiện.
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước đôi khi chỉ kiểm tra “lý lịch công chức” mà không lưu ý giới hạn quan hệ gia đình được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 155. Khi bổ nhiệm sai đối tượng, quyết định HĐQT có nguy cơ bị xem xét tính hợp lệ, hoặc người bổ nhiệm bị xử lý trách nhiệm hành chính, thậm chí hình sự trong trường hợp có yếu tố vụ lợi.
Thứ tư, cần chú ý tương quan giữa Điều lệ công ty, Luật Doanh nghiệp và pháp luật chuyên ngành (như Luật Chứng khoán đối với công ty đại chúng). Điều lệ không được hạ thấp tiêu chuẩn pháp luật quy định; nếu muốn đặt ra tiêu chuẩn cao hơn (ví dụ cấm kiêm nhiệm HĐQT nhiều công ty, yêu cầu trình độ học vấn cao hơn) thì phải quy định rõ, bảo đảm minh bạch cho cổ đông và ứng viên HĐQT.