Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020: Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông
Bình luận Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020 về quyền yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, thời hạn 90 ngày và căn cứ áp dụng.
Điều 151. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông
Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết hoặc biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 115 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:
1. Trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 152 của Luật này;
2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.
Ý nghĩa kiểm soát quyền lực trong công ty cổ phần
Điều 151 là cơ chế “giám sát sau” đối với nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, nhằm bảo đảm quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty được ban hành đúng luật, đúng Điều lệ và đúng thủ tục. Quy định này phản ánh quan điểm cân bằng giữa nguyên tắc đa số và bảo vệ thiểu số: nghị quyết đã được thông qua không mặc nhiên hợp pháp nếu quá trình ra quyết định bị sai phạm nghiêm trọng. Trong thực tiễn, điều luật này thường được sử dụng như công cụ xử lý các nghị quyết gây ảnh hưởng lớn đến quyền cổ đông, cơ cấu quản trị hoặc định hướng tài sản của công ty.
Điều kiện để được yêu cầu hủy nghị quyết
Điều luật chỉ trao quyền yêu cầu cho cổ đông, nhóm cổ đông thuộc khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, tức không phải mọi cổ đông đều đương nhiên có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu trọng tài. Thời hạn 90 ngày là thời hạn rất quan trọng, được tính từ ngày nhận được nghị quyết, biên bản họp hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến; quá thời hạn này thì quyền yêu cầu theo điều này không còn giá trị thực hiện. Đây là điểm thường bị bỏ sót trong thực tiễn, vì nhiều tranh chấp chỉ phát sinh rõ ràng sau khi nghị quyết đã bắt đầu được triển khai.
Hai căn cứ hủy cần phân biệt rõ
Căn cứ thứ nhất là vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định. Không phải mọi sai sót kỹ thuật đều đủ để hủy nghị quyết; phải là vi phạm có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng thực chất đến quyền tham dự, thảo luận, biểu quyết hoặc kết quả thông qua nghị quyết. Căn cứ thứ hai là nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty; khi đó, dù thủ tục có thể đúng, nghị quyết vẫn có thể bị hủy nếu trái quy định bắt buộc hoặc vượt quá giới hạn Điều lệ.
Điểm cần lưu ý khi áp dụng
Người yêu cầu hủy cần tách bạch rõ giữa vi phạm thủ tục và vi phạm nội dung, đồng thời chứng minh mối liên hệ giữa vi phạm và tính bất hợp pháp của nghị quyết. Trong nhiều vụ việc, sai sót nhỏ về hình thức nhưng không làm thay đổi bản chất biểu quyết sẽ không đủ để hủy nghị quyết. Ngược lại, một nghị quyết có nội dung trái luật vẫn có thể bị hủy dù thủ tục thông qua nhìn bề ngoài có vẻ đầy đủ.
Những hiểu nhầm thường gặp
Một hiểu nhầm phổ biến là cho rằng cứ có sai sót trong họp Đại hội đồng cổ đông thì nghị quyết tự động vô hiệu; thực tế, Điều 151 đòi hỏi phải có yêu cầu hợp lệ và quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài. Hiểu nhầm thứ hai là đồng nhất thời hạn 90 ngày với thời hiệu khởi kiện thông thường; trong điều này, thời hạn mang tính quyết định đối với khả năng yêu cầu hủy nghị quyết. Cũng cần lưu ý rằng Điều 151 là cơ chế bảo vệ pháp lý riêng, khác với việc yêu cầu sửa đổi, đình chỉ thực hiện hay xử lý trách nhiệm nội bộ của người quản lý công ty.