Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2020: Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức
Bình luận Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2020 về người đại diện theo ủy quyền của tổ chức, điều kiện, số lượng và hiệu lực văn bản.
Điều 14. Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức
1. Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức phải là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc cử người đại diện theo ủy quyền thực hiện theo quy định sau đây:
a) Tổ chức là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện theo ủy quyền;
b) Tổ chức là cổ đông công ty cổ phần có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện theo ủy quyền.
3. Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức cử nhiều người đại diện theo ủy quyền thì phải xác định cụ thể phần vốn góp, số cổ phần cho mỗi người đại diện theo ủy quyền. Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty không xác định phần vốn góp, số cổ phần tương ứng cho mỗi người đại diện theo ủy quyền thì phần vốn góp, số cổ phần sẽ được chia đều cho tất cả người đại diện theo ủy quyền.
4. Văn bản cử người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo cho công ty và chỉ có hiệu lực đối với công ty kể từ ngày công ty nhận được văn bản. Văn bản cử người đại diện theo ủy quyền phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông;
b) Số lượng người đại diện theo ủy quyền và tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp tương ứng của mỗi người đại diện theo ủy quyền;
c) Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân từng người đại diện theo ủy quyền;
d) Thời hạn ủy quyền tương ứng của từng người đại diện theo ủy quyền; trong đó ghi rõ ngày bắt đầu được đại diện;
đ) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông và của người đại diện theo ủy quyền.
5. Người đại diện theo ủy quyền phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này;
b) Thành viên, cổ đông là doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này không được cử người có quan hệ gia đình của người quản lý công ty và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty làm người đại diện tại công ty khác;
c) Tiêu chuẩn và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định.
Ý nghĩa của cơ chế đại diện theo ủy quyền
Điều 14 cho thấy chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức không thực hiện quyền của mình bằng tư cách pháp nhân trong cuộc họp hay trong quan hệ nội bộ công ty, mà thông qua cá nhân được chỉ định bằng văn bản. Cách thiết kế này nhằm bảo đảm việc biểu quyết, tham gia quản lý và chịu trách nhiệm trong công ty được gắn với một người cụ thể, có thể xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm. Vì vậy, đây không phải là một hình thức “thuê người đứng tên”, mà là cơ chế đại diện hợp pháp để thực hiện quyền của phần vốn góp hoặc cổ phần.
Điều kiện để áp dụng
Cơ chế tại Điều 14 chỉ phát sinh khi chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông là tổ chức và có văn bản ủy quyền hợp lệ. Văn bản này chỉ có hiệu lực đối với công ty kể từ thời điểm công ty nhận được, nên việc ký xong nhưng chưa gửi hoặc chưa được tiếp nhận chưa làm phát sinh quyền đại diện trong quan hệ với công ty. Nếu Điều lệ công ty có quy định khác về số lượng hoặc cách cử người đại diện thì phải ưu tiên áp dụng Điều lệ, trừ trường hợp Điều lệ trái luật.
Điểm cần nắm khi xác định số lượng người đại diện
Luật cho phép tổ chức nắm giữ tỷ lệ sở hữu nhất định được cử tối đa 03 người đại diện theo ủy quyền, nhưng phải phân bổ rõ phần vốn góp hoặc số cổ phần cho từng người. Đây là điểm rất quan trọng vì quyền biểu quyết, quyền đề cử, quyền nhận thông tin và các quyền gắn với tư cách thành viên/cổ đông sẽ được thực hiện tương ứng với phần được phân công. Nếu không chỉ rõ tỷ lệ cho từng người, pháp luật mặc nhiên chia đều, để tránh tranh chấp nội bộ và tránh việc một người đại diện tự ý mở rộng phạm vi quyền.
Tiêu chuẩn của người đại diện
Người đại diện theo ủy quyền không phải là bất kỳ cá nhân nào do tổ chức lựa chọn, mà phải đáp ứng điều kiện của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Trọng tâm ở đây là loại trừ các trường hợp bị cấm, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích, nhất là đối với doanh nghiệp nhà nước khi cử người có quan hệ gia đình với người quản lý công ty hoặc người có thẩm quyền bổ nhiệm. Quy định này nhằm ngăn việc sử dụng quyền sở hữu để chi phối công ty qua các trung gian có xung đột lợi ích hoặc thiếu độc lập.
Những hiểu lầm thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần có quyết định nội bộ của tổ chức thì người được chỉ định đã đương nhiên có quyền tại công ty. Thực tế, quyền này chỉ được công ty công nhận khi nhận được văn bản cử người đại diện hợp lệ theo đúng nội dung bắt buộc của Điều 14. Một nhầm lẫn khác là cho rằng một người đại diện có thể đại diện cho toàn bộ phần vốn hoặc toàn bộ cổ phần của tổ chức mà không cần xác định phạm vi; điều này trái với yêu cầu phân định cụ thể trách nhiệm và quyền biểu quyết.
Lưu ý thực tiễn
Khi soạn văn bản ủy quyền, cần kiểm tra đồng thời ba lớp quy định: Luật Doanh nghiệp, Điều lệ công ty và quy chế nội bộ của tổ chức cử đại diện. Thiếu một trong các dữ liệu bắt buộc như số lượng người đại diện, tỷ lệ sở hữu tương ứng, thời hạn ủy quyền hoặc chữ ký hợp lệ có thể làm phát sinh tranh chấp về tư cách tham gia họp, biểu quyết và nhận thông báo. Trong thực tiễn, giá trị của Điều 14 nằm ở chỗ khóa chặt tính hợp lệ của chủ thể thực hiện quyền, nên mọi sai sót về hình thức thường kéo theo rủi ro vô hiệu hóa việc thực hiện quyền tại công ty.