Điều 133 Luật Doanh nghiệp 2020: Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty
Bình luận Điều 133 Luật Doanh nghiệp 2020 về mua lại cổ phần theo quyết định của công ty, giới hạn tỷ lệ, thẩm quyền và nguyên tắc định giá.
Điều 133. Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty
Công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán theo quy định sau đây:
1. Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Trường hợp khác, việc mua lại cổ phần do Đại hội đồng cổ đông quyết định;
2. Hội đồng quản trị quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Đối với cổ phần loại khác, nếu Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường;
3. Công ty có thể mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo bằng phương thức để bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định đó được thông qua. Thông báo phải gồm tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông bán cổ phần của họ cho công ty;
b) Cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi văn bản đồng ý bán cổ phần của mình bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Văn bản đồng ý bán cổ phần phải có họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu và số cổ phần đồng ý bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông. Công ty chỉ mua lại cổ phần trong thời hạn nêu trên.
1. Mục đích điều chỉnh và ý nghĩa thực tiễn
Điều 133 tạo hành lang pháp lý cho việc công ty chủ động mua lại cổ phần đã phát hành nhưng vẫn bảo đảm an toàn tài chính, trật tự quản trị và quyền lợi cổ đông. Quy định giới hạn tỷ lệ, thẩm quyền quyết định và nguyên tắc định giá nhằm tránh việc lạm dụng mua lại cổ phần để rút vốn khỏi công ty hoặc thâu tóm quyền kiểm soát một cách không minh bạch. Nhờ đó, hoạt động mua lại cổ phần trở thành công cụ quản trị vốn và cơ cấu lại cơ cấu cổ đông một cách hợp pháp, có kiểm soát.
2. Giới hạn tỷ lệ và thẩm quyền quyết định
Trọng tâm đầu tiên là giới hạn tổng lượng cổ phần công ty được mua lại: không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán và đối với cổ phần ưu đãi cổ tức là một phần hoặc toàn bộ theo quy định riêng. Trong giới hạn này, Hội đồng quản trị chỉ được tự quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng; vượt ngưỡng đó phải trình Đại hội đồng cổ đông quyết định. Cách thiết kế này phân tách các giao dịch mua lại có ảnh hưởng nhỏ (giao cho Hội đồng quản trị) với các giao dịch có tác động lớn đến cấu trúc vốn và quyền lực trong công ty (thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông).
3. Nguyên tắc định giá – cơ chế bảo vệ cổ đông và vốn công ty
Điều luật nhấn mạnh nguyên tắc về giá mua lại cổ phần để tránh làm thiệt hại cho cổ đông còn lại hoặc cho chính công ty. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp mua lại theo thủ tục bắt buộc khác được quy định tại khoản 3 Điều 133 hoặc điều khác của Luật, nhằm tránh việc công ty dùng tiền chung để ưu ái một nhóm cổ đông bán ra. Đối với cổ phần loại khác, nếu Điều lệ công ty hoặc thỏa thuận với cổ đông không có quy định riêng, giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường, nhằm tránh việc chuyển tài sản công ty cho một nhóm cổ đông với giá rẻ, làm thiệt hại cổ đông còn lại và chủ nợ.
4. Mua lại theo tỷ lệ sở hữu – điều kiện và trình tự
Khi công ty mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng tỷ lệ sở hữu, trọng tâm là bảo đảm nguyên tắc đối xử bình đẳng và minh bạch thông tin. Quyết định mua lại phải được thông báo bằng phương thức bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được thông qua, với các thông tin tối thiểu như: số lượng, loại cổ phần được mua lại, giá hoặc nguyên tắc định giá, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông đăng ký bán. Cổ đông có nhu cầu bán phải gửi văn bản đồng ý bán trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo, và công ty chỉ được mua lại trong khoảng thời gian này, nhằm chống việc lựa chọn đối tượng mua lại một cách tùy tiện.
5. Sai sót, nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn
Một nhầm lẫn phổ biến là coi việc mua lại cổ phần theo Điều 133 tương tự như mua bán cổ phần tự do giữa các cổ đông với nhau, nên không tuân thủ giới hạn tỷ lệ, thẩm quyền và nguyên tắc định giá. Ngoài ra, nhiều công ty bỏ qua yêu cầu thông báo đến toàn bộ cổ đông trong trường hợp mua lại theo tỷ lệ sở hữu, dẫn tới khiếu kiện về việc vi phạm quyền tiếp cận thông tin và quyền bán cổ phần. Một lỗi khác là xác định giá mua lại cổ phần phổ thông cao hơn thị trường mà không thuộc trường hợp ngoại lệ, làm tăng nguy cơ giao dịch bị tuyên vô hiệu hoặc người quản lý bị xem xét trách nhiệm.
6. Lưu ý khi áp dụng Điều 133 trong tình huống cụ thể
Khi áp dụng Điều 133, cần xác định rõ mục đích mua lại (cơ cấu lại vốn, xử lý cổ phần lẻ, ổn định cơ cấu cổ đông...) và đối chiếu với các điều kiện về nguồn vốn, bảo đảm thanh toán nợ đến hạn ở các điều luật liên quan của Luật Doanh nghiệp 2020. Do việc mua lại cổ phần thường tác động trực tiếp đến quyền biểu quyết và tỷ lệ sở hữu, cần kiểm tra đồng thời Điều lệ công ty về giới hạn bổ sung, thủ tục nội bộ và các thỏa thuận giữa cổ đông. Cũng cần phân biệt mua lại theo quyết định của công ty tại Điều 133 với mua lại theo yêu cầu của cổ đông (quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần) để lựa chọn đúng căn cứ pháp lý, trình tự và chính sách giá.