Điều 109 Luật Doanh nghiệp 2020: Công bố thông tin định kỳ

Bình luận pháp lý Điều 109 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước về nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ và trách nhiệm người đại diện.

Điều 109. Công bố thông tin định kỳ

1. Công ty phải công bố định kỳ trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu những thông tin sau đây:

a) Thông tin cơ bản về công ty và Điều lệ công ty;

b) Mục tiêu tổng quát; mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm;

c) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trong thời hạn 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có);

d) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập; thời hạn công bố phải trước ngày 31 tháng 7 hằng năm; bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có);

đ) Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm;

e) Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác;

g) Báo cáo về thực trạng quản trị, cơ cấu tổ chức công ty.

2. Báo cáo thực trạng quản trị công ty bao gồm các thông tin sau đây:

a) Thông tin về cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu;

b) Thông tin về người quản lý công ty, bao gồm trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, các vị trí quản lý đã nắm giữ, cách thức được bổ nhiệm, công việc quản lý được giao; mức và cách thức chi trả tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác; người có liên quan và lợi ích có liên quan của người quản lý công ty;

c) Quyết định có liên quan của cơ quan đại diện chủ sở hữu; các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;

d) Thông tin về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên và hoạt động của họ;

đ) Báo cáo kết luận của cơ quan thanh tra (nếu có) và báo cáo của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

e) Thông tin về người có liên quan của công ty, hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan;

g) Thông tin khác theo quy định của Điều lệ công ty.

3. Thông tin được công bố phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.

4. Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện công bố thông tin. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Vai trò của nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ

Điều 109 đặt ra chuẩn mực minh bạch bắt buộc đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Quy định này gắn trực tiếp với yêu cầu sử dụng vốn nhà nước đúng mục đích, hiệu quả và có thể kiểm soát được. Đồng thời, công bố định kỳ giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan thanh tra, kiểm toán và xã hội giám sát tài chính, quản trị và thực hiện nhiệm vụ công ích của doanh nghiệp.

Phạm vi thông tin phải công bố: không chỉ là báo cáo tài chính

Một nhầm lẫn phổ biến là coi công bố định kỳ chỉ gắn với báo cáo tài chính. Khoản 1 Điều 109 cho thấy phạm vi rộng hơn nhiều: từ thông tin cơ bản và Điều lệ, mục tiêu, kế hoạch kinh doanh, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội cho đến thực trạng quản trị, cơ cấu tổ chức. Vì vậy, doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống báo cáo nội bộ bảo đảm đủ dữ liệu cho tất cả nhóm thông tin chứ không chỉ tập trung vào số liệu kế toán.

Điều kiện kích hoạt nghĩa vụ: chủ thể, tính chất vốn và chu kỳ báo cáo

Nghĩa vụ công bố định kỳ theo Điều 109 chủ yếu áp dụng cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn, được xác định trong Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Trọng tâm áp dụng là: công ty mẹ thuộc tập đoàn, tổng công ty nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu; và các doanh nghiệp khác có tỷ lệ vốn nhà nước theo hướng dẫn của Chính phủ. Nghĩa vụ được “kích hoạt” theo chu kỳ báo cáo tài chính năm, báo cáo giữa năm và kế hoạch kinh doanh hằng năm, đi kèm các mốc thời gian cứng (150 ngày sau năm tài chính, trước ngày 31/7 hằng năm).

Thời hạn và kênh công bố: yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt

Khoản 1 quy định rõ thời hạn công bố báo cáo tài chính năm là trong 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính giữa năm phải công bố trước ngày 31 tháng 7 hằng năm. Doanh nghiệp cần coi đây là thời hạn pháp lý bắt buộc, không phải mốc khuyến nghị. Về kênh công bố, thông tin phải được đăng trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu, tránh tình trạng chỉ công bố nội bộ hoặc trên một kênh hạn chế tiếp cận.

Nội dung báo cáo thực trạng quản trị công ty

Khoản 2 cấu trúc cụ thể các nhóm thông tin về quản trị: thông tin về cơ quan đại diện chủ sở hữu và người đứng đầu; thông tin chi tiết về người quản lý (trình độ, kinh nghiệm, cách bổ nhiệm, nhiệm vụ, chế độ lương thưởng và lợi ích liên quan); quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu, nghị quyết Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty; thông tin về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên; kết luận thanh tra, báo cáo kiểm soát; người có liên quan và giao dịch với người có liên quan; cùng các thông tin khác theo Điều lệ. Như vậy, công bố quản trị theo Điều 109 ở mức sâu, tương đương chuẩn mực quản trị công ty hiện đại chứ không chỉ là sơ đồ tổ chức.

Trách nhiệm cá nhân của người đại diện theo pháp luật

Khoản 4 nêu rõ: người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền là người thực hiện công bố thông tin, song trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin vẫn gắn trực tiếp với người đại diện theo pháp luật. Do đó, ủy quyền chỉ là chuyển giao thao tác kỹ thuật, không chuyển giao trách nhiệm pháp lý. Việc thiếu, chậm, sai hoặc không trung thực thông tin được công bố có thể là căn cứ xem xét trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm khác theo pháp luật chuyên ngành.

Những hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng

Nhầm lẫn về đối tượng và phạm vi công bố

Một số doanh nghiệp nhà nước cho rằng chỉ cần công bố cho cơ quan đại diện chủ sở hữu, không phải công bố cho công chúng rộng rãi. Điều 109 yêu cầu công bố trên trang thông tin điện tử của công ty, nghĩa là thông tin phải sẵn có cho đối tượng bên ngoài (nhà đầu tư, đối tác, người lao động, công chúng) trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc quy định nội bộ hạn chế vì lý do bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh. Doanh nghiệp cần phân định rạch ròi giữa thông tin phải công bố và thông tin được phép hạn chế, căn cứ luật chuyên ngành.

Nhầm lẫn giữa báo cáo nội bộ và báo cáo công bố

Nhiều doanh nghiệp lập báo cáo nội bộ chi tiết nhưng chỉ công bố phần tóm tắt, thiếu thông tin trọng yếu. Điều 109 yêu cầu công bố cả báo cáo và tóm tắt báo cáo (đối với báo cáo tài chính), nên việc chỉ đưa bản tóm tắt mà không kèm báo cáo đã kiểm toán là không đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ. Cần lưu ý thêm: báo cáo công bố phải là báo cáo đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, tránh tình trạng công bố số liệu sơ bộ chưa kiểm toán.

Lưu ý khi xử lý thông tin về người quản lý và người có liên quan

Thông tin về tiền lương, thù lao, thưởng, lợi ích khác và giao dịch với người có liên quan thường được coi là nhạy cảm. Tuy nhiên, Điều 109 yêu cầu công bố, nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích và chuyển dịch tài sản không minh bạch. Doanh nghiệp nên xây dựng mẫu báo cáo chuẩn, vừa tuân thủ nghĩa vụ công bố, vừa bảo vệ bí mật đời tư ở mức phù hợp với pháp luật (ví dụ: không công bố dữ liệu cá nhân vượt quá yêu cầu về thông tin quản lý, lợi ích và giao dịch).

Mối liên hệ với quy định chi tiết của Chính phủ và pháp luật liên quan

Khoản 5 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 109. Khi áp dụng, cần đọc song song các nghị định hướng dẫn về quản lý, sử dụng vốn nhà nước và các quy định về công bố thông tin đối với doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, tổng công ty. Ngoài ra, doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập và pháp luật chứng khoán (nếu là công ty đại chúng), vì vậy hệ thống công bố thông tin cần được thiết kế bảo đảm tuân thủ đồng bộ, tránh mâu thuẫn hoặc bỏ sót nghĩa vụ.

Doanh nghiệp nhà nước nào phải tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ theo Điều 109?
Các doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty.
Nếu chậm công bố báo cáo tài chính theo Điều 109 thì trách nhiệm pháp lý là gì?
Chậm công bố là vi phạm nghĩa vụ minh bạch, có thể bị xử lý kỷ luật người đại diện theo pháp luật, xử phạt hành chính theo luật chuyên ngành và ảnh hưởng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Các báo cáo tài chính công bố định kỳ theo Điều 109 có bắt buộc phải kiểm toán độc lập không?
Có. Báo cáo tài chính năm và giữa năm phải là báo cáo đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, kể cả báo cáo tài chính công ty mẹ và báo cáo hợp nhất nếu có.
Thông tin về tiền lương, thưởng của người quản lý có phải công bố chi tiết không?
Phải công bố mức và cách thức chi trả tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác, nhưng doanh nghiệp có thể thiết kế biểu mẫu bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Doanh nghiệp có thể chỉ công bố tóm tắt báo cáo tài chính theo Điều 109 không?
Không. Điều 109 yêu cầu công bố cả báo cáo và bản tóm tắt đã được kiểm toán; chỉ công bố tóm tắt là chưa đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ.
Mục lục văn bản