Điều 103 Luật Doanh nghiệp 2020: Ban kiểm soát, Kiểm soát viên

Bình luận Điều 103 Luật Doanh nghiệp nhà nước về Ban kiểm soát, tiêu chuẩn và giới hạn Kiểm soát viên, phục vụ áp dụng thực tiễn.

Điều 103. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên

1. Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.

2. Một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước.

3. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

a) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc;

b) Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty;

c) Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty;

d) Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Vị trí, vai trò của Ban kiểm soát trong doanh nghiệp nhà nước

Điều 103 đặt Ban kiểm soát, Kiểm soát viên như cơ chế giám sát nội bộ bắt buộc, nhằm kiểm soát việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước trong doanh nghiệp. Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định quy mô Ban kiểm soát dựa trên đặc thù từng công ty, qua đó điều chỉnh mức độ giám sát tương ứng với rủi ro quản trị. Cách thiết kế này gắn trực tiếp trách nhiệm giám sát với chủ sở hữu nhà nước, chứ không chỉ với bộ máy quản lý doanh nghiệp.

Cấu trúc Ban kiểm soát và giới hạn nhiệm kỳ

Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, cho phép linh hoạt theo quy mô, nhưng vẫn giữ yêu cầu tối thiểu về cơ chế giám sát. Trường hợp chỉ có 01 Kiểm soát viên thì người này đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn, bảo đảm năng lực chuyên môn đủ để thực hiện chức năng giám sát đơn lẻ. Giới hạn nhiệm kỳ không quá 05 năm và không quá 02 nhiệm kỳ liên tục nhằm tránh tình trạng gắn bó lợi ích quá lâu với bộ máy quản lý, từ đó giảm nguy cơ “hữu nghị” trong giám sát.

Giới hạn kiêm nhiệm giữa các doanh nghiệp nhà nước

Quy định một cá nhân chỉ được làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại không quá 04 doanh nghiệp nhà nước nhằm cân bằng giữa nhu cầu sử dụng chuyên gia giám sát có kinh nghiệm và nguy cơ quá tải, hình thức. Giới hạn này còn nhằm hạn chế xung đột lợi ích, tránh việc một cá nhân nắm ảnh hưởng quá rộng trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Khi bổ nhiệm, cơ quan đại diện chủ sở hữu cần rà soát đầy đủ các chức danh mà ứng viên đang đảm nhiệm để bảo đảm tuân thủ giới hạn này, tránh bổ nhiệm trái luật dẫn đến rủi ro về tính hợp pháp của hoạt động giám sát.

Tiêu chuẩn chuyên môn và kinh nghiệm

Điều 103 yêu cầu Kiểm soát viên phải có bằng đại học trở lên thuộc các ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc ngành phù hợp với hoạt động doanh nghiệp, phản ánh yêu cầu về năng lực phân tích, đánh giá quản trị và tài chính. Kiểm soát viên phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm, còn Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm, thể hiện yêu cầu cao hơn đối với người chịu trách nhiệm điều phối, kết luận giám sát. Khi áp dụng, cần lưu ý kinh nghiệm phải là kinh nghiệm làm việc thực tế, có liên quan, tránh tình trạng bổ nhiệm mang tính hình thức chỉ đủ “bằng cấp” mà thiếu năng lực thực chất.

Yêu cầu độc lập, tránh xung đột lợi ích

Một trong những trọng tâm của Điều 103 là bảo đảm tính độc lập của Kiểm soát viên. Họ không được là người quản lý công ty, không là người quản lý tại doanh nghiệp khác, không là người lao động của công ty và không được làm Kiểm soát viên tại doanh nghiệp ngoài khu vực doanh nghiệp nhà nước. Thiết kế này nhằm tách bạch rõ ràng giữa người “bị giám sát” (bộ máy quản lý, điều hành) và người “giám sát”, tránh tình trạng vừa quản lý vừa tự giám sát. Bên cạnh đó, quy định cấm quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chức danh quản lý, Kiểm soát viên khác trong công ty nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng thân hữu lên hoạt động giám sát.

Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng Kiểm soát viên có thể đồng thời là người lao động hoặc giữ vị trí quản lý trong công ty để tiện “nắm bắt tình hình”, trong khi Điều 103 quy định ngược lại, đặt ra yêu cầu độc lập và tách biệt về chức năng. Một nhầm lẫn khác là coi giới hạn 04 doanh nghiệp áp dụng riêng cho chức danh Trưởng Ban kiểm soát, nhưng điều luật áp dụng cho cả Trưởng Ban kiểm soát và Kiểm soát viên. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng bằng cấp, mà xem nhẹ điều kiện kinh nghiệm, dẫn đến bổ nhiệm không đúng tiêu chuẩn, làm suy yếu giá trị pháp lý và hiệu quả thực tế của hoạt động giám sát.

Vai trò của Điều lệ công ty và hướng dẫn chi tiết

Điều 103 cho phép Điều lệ công ty quy định thêm tiêu chuẩn, điều kiện khác, miễn không trái luật, ví dụ nâng cao yêu cầu về số năm kinh nghiệm, chuyên ngành, hoặc bổ sung quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho Kiểm soát viên. Đây là công cụ để doanh nghiệp nâng chuẩn quản trị, phù hợp với lĩnh vực có rủi ro cao như tài chính, năng lượng, hạ tầng. Khoản giao Chính phủ quy định chi tiết là cơ sở để ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể hơn về quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ đãi ngộ và cơ chế hoạt động của Ban kiểm soát, giúp việc áp dụng Điều 103 thống nhất, hạn chế tranh chấp về hiệu lực quyết định giám sát.

Doanh nghiệp nhà nước có bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát theo Điều 103 không?
Có, nhưng quy mô và việc thành lập cụ thể do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định, căn cứ vào quy mô và đặc thù của doanh nghiệp.
Một người vừa là Giám đốc công ty, vừa là Kiểm soát viên có được không?
Không. Điều 103 yêu cầu Kiểm soát viên không được là người quản lý công ty và không là người lao động của công ty để đảm bảo tính độc lập giám sát.
Giới hạn 02 nhiệm kỳ liên tục của Kiểm soát viên được hiểu như thế nào?
Một người được bổ nhiệm Kiểm soát viên tối đa 02 nhiệm kỳ liên tục tại cùng một công ty, mỗi nhiệm kỳ không quá 05 năm; sau đó muốn tiếp tục phải có giai đoạn gián đoạn.
Trưởng Ban kiểm soát có thể làm Kiểm soát viên ở bao nhiêu doanh nghiệp nhà nước?
Một người chỉ được đồng thời làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên ở không quá 04 doanh nghiệp nhà nước, để tránh quá tải và xung đột lợi ích.
Điều lệ công ty có được đặt tiêu chuẩn Kiểm soát viên cao hơn Điều 103 không?
Được. Điều lệ công ty có thể bổ sung tiêu chuẩn, điều kiện cao hơn, miễn không trái Điều 103 và các quy định pháp luật có liên quan.
Mục lục văn bản