Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2020: Giám đốc, Tổng giám đốc và Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc
Bình luận Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2020 về vị trí, quyền và nghĩa vụ của Giám đốc, Tổng giám đốc, Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc.
Điều 100. Giám đốc, Tổng giám đốc và Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc
1. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có nhiệm vụ điều hành các hoạt động hằng ngày của công ty và có quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, phương án kinh doanh, kế hoạch đầu tư của công ty;
b) Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty;
c) Quyết định các công việc hằng ngày của công ty;
d) Ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty đã được Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chấp thuận;
đ) Bổ nhiệm, thuê, miễn nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng lao động đối với người quản lý công ty, trừ chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
e) Ký kết hợp đồng, giao dịch nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
g) Lập và trình Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty báo cáo định kỳ hằng quý, hằng năm về kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch kinh doanh; báo cáo tài chính;
h) Kiến nghị phân bổ và sử dụng lợi nhuận sau thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
i) Tuyển dụng lao động;
k) Kiến nghị phương án tổ chức lại công ty;
l) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
3. Công ty có một hoặc một số Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc. Số lượng, thẩm quyền bổ nhiệm Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc quy định tại Điều lệ công ty. Quyền và nghĩa vụ của Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc quy định tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động.
Vị trí pháp lý và cơ chế bổ nhiệm Giám đốc, Tổng giám đốc
Điều 100 điều chỉnh địa vị pháp lý của Giám đốc/Tổng giám đốc trong công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn nhà nước, nhấn mạnh đây là chức danh điều hành do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm, thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận. Cơ chế này phản ánh cấu trúc quản trị hai tầng: cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước xác định phương án nhân sự, còn Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty thực hiện việc bổ nhiệm, bảo đảm vừa có kiểm soát của chủ sở hữu, vừa có tính linh hoạt trong quản trị doanh nghiệp.
Trọng tâm quyền hạn: điều hành, không thay thế quyền quyết định của chủ sở hữu
Danh mục quyền và nghĩa vụ của Giám đốc/Tổng giám đốc trong Điều 100 tập trung vào việc tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư, nghị quyết và quyết định của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trọng tâm cần nắm là Giám đốc/Tổng giám đốc có quyền quyết định các công việc hằng ngày, ban hành quy chế nội bộ, ký kết hợp đồng, thực hiện nhân sự quản lý trong phạm vi được giao, nhưng không có quyền thay đổi hoặc phủ quyết các quyết sách chiến lược đã được cơ quan chủ sở hữu và Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty thông qua. Đây là điểm phân định giữa quyền quản lý (management) và quyền sở hữu/quyết định chính sách (governance).
Điều kiện áp dụng và giới hạn thẩm quyền
Khi áp dụng Điều 100, cần xác định rõ: (i) loại hình công ty và bối cảnh có vốn nhà nước chi phối, (ii) Điều lệ công ty và nghị quyết, quyết định đã giao thẩm quyền cụ thể cho Giám đốc/Tổng giám đốc, (iii) các trường hợp thuộc thẩm quyền riêng của Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty. Quyền ký kết hợp đồng, giao dịch, quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm người quản lý, và quyền ban hành quy chế nội bộ đều bị giới hạn bởi những gì Điều lệ, nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty và quy định pháp luật đặt ra. Do đó, để “kích hoạt” việc viện dẫn Điều 100, phải đối chiếu song song với Điều lệ và các nghị quyết liên quan, tránh áp dụng Điều 100 như một nguồn quyền hạn độc lập, tuyệt đối.
Những cách hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là coi Giám đốc/Tổng giám đốc là “người đại diện cao nhất” và có thể tự định đoạt mọi vấn đề của công ty, kể cả vấn đề chiến lược, tổ chức lại, chuyển nhượng vốn nhà nước, quyết định đầu tư lớn. Điều 100 chỉ trao quyền điều hành hằng ngày và quyền kiến nghị, trình phương án, không trao thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với các vấn đề trọng yếu vốn thuộc Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một cách hiểu sai khác là cho rằng mọi chức danh quản lý thuộc quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm của Giám đốc/Tổng giám đốc; trong khi đó, Điều luật đã loại trừ các chức danh thuộc thẩm quyền riêng của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, nội dung này thường được cụ thể hóa trong Điều lệ.
Vai trò và giới hạn của Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc
Khoản 3 Điều 100 quy định công ty có thể có một hoặc nhiều Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc, nhưng không ấn định số lượng cụ thể mà giao cho Điều lệ công ty quyết định. Quyền và nghĩa vụ của các chức danh này được xác định bởi Điều lệ và hợp đồng lao động, qua đó thể hiện quan điểm: Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc là người hỗ trợ, thực hiện một phần nhiệm vụ được phân công, không đương nhiên có đầy đủ mọi quyền như Giám đốc/Tổng giám đốc. Trong thực tế, việc phân định rõ phạm vi ủy quyền, chế độ chịu trách nhiệm của Phó giám đốc, Phó Tổng giám đốc là yêu cầu quan trọng để tránh tình trạng quyết định vượt quyền hoặc khó xác định trách nhiệm khi xảy ra rủi ro pháp lý.
Lưu ý thực tiễn khi áp dụng Điều 100
Thứ nhất, mọi quyết định của Giám đốc/Tổng giám đốc liên quan đến hợp đồng, giao dịch hoặc nhân sự quản lý phải đối chiếu với Điều lệ, nghị quyết của Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty để bảo đảm có căn cứ thẩm quyền rõ ràng, tránh trường hợp giao dịch bị vô hiệu hoặc bị cơ quan chủ sở hữu, kiểm tra, thanh tra kết luận vượt thẩm quyền. Thứ hai, quyền kiến nghị phân bổ, sử dụng lợi nhuận sau thuế và tổ chức lại công ty là quyền kiến nghị, không phải quyền tự quyết; việc phê duyệt thuộc về cơ quan sở hữu và cơ quan quản trị cấp trên, nên hồ sơ nội bộ cần ghi nhận rõ ý kiến kiến nghị và quyết định phê duyệt tương ứng. Thứ ba, cần gắn trách nhiệm báo cáo định kỳ hằng quý, hằng năm với cơ chế đánh giá, khen thưởng, kỷ luật Giám đốc/Tổng giám đốc; đây là công cụ quan trọng để cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát việc sử dụng vốn nhà nước, tránh hình thức hóa nghĩa vụ báo cáo.