Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2020: Tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội

Bình luận pháp lý Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 về tiêu chí, quyền, nghĩa vụ và ưu đãi đối với doanh nghiệp xã hội.

Điều 10. Tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội

1. Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;

b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu đã đăng ký.

2. Ngoài quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;

b) Được huy động, nhận tài trợ từ cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và tổ chức khác của Việt Nam, nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý, chi phí hoạt động của doanh nghiệp;

c) Duy trì mục tiêu hoạt động và điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này trong suốt quá trình hoạt động;

d) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;

đ) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp xã hội phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền khi chấm dứt thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường hoặc không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

4. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Định vị doanh nghiệp xã hội trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp

Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 đặt doanh nghiệp xã hội trong khuôn khổ chung của doanh nghiệp, nhưng gắn thêm mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Doanh nghiệp xã hội vẫn là một chủ thể kinh doanh có đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, đồng thời hoạt động như một công cụ thực hiện chính sách xã hội. Cách thiết kế này nhằm tránh tách doanh nghiệp xã hội khỏi thị trường, nhưng vẫn bảo đảm tính cam kết đối với mục tiêu cộng đồng.

Tiêu chí cấu thành doanh nghiệp xã hội

Điều luật nêu ba tiêu chí bắt buộc: (i) đăng ký thành lập theo Luật Doanh nghiệp; (ii) mục tiêu hoạt động là giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; (iii) sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm để tái đầu tư cho mục tiêu đã đăng ký. Chỉ khi đồng thời đáp ứng cả ba tiêu chí thì một doanh nghiệp mới được coi là doanh nghiệp xã hội theo pháp luật. Tỷ lệ 51% lợi nhuận là ranh giới thể hiện ưu tiên cho mục tiêu xã hội hơn mục tiêu lợi nhuận thuần túy, tạo cơ sở cho việc hưởng ưu đãi, hỗ trợ.

Quyền huy động tài trợ và cơ chế bảo đảm sử dụng đúng mục đích

Doanh nghiệp xã hội được trao quyền huy động và nhận tài trợ từ các chủ thể trong và ngoài nước nhằm bù đắp chi phí quản lý, chi phí hoạt động. Quyền này tạo ưu thế so với doanh nghiệp thông thường, đồng thời giúp mô hình doanh nghiệp xã hội cạnh tranh và duy trì hoạt động trong những lĩnh vực khó sinh lợi. Tuy nhiên, điều luật đặt ra giới hạn chặt chẽ: doanh nghiệp xã hội không được sử dụng các khoản tài trợ cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động phục vụ việc giải quyết vấn đề xã hội, môi trường đã đăng ký, qua đó phòng ngừa việc lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp xã hội để trục lợi.

Nghĩa vụ duy trì mục tiêu xã hội và cơ chế giám sát

Điều 10 yêu cầu doanh nghiệp xã hội duy trì xuyên suốt mục tiêu hoạt động xã hội, môi trường và việc sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đã đăng ký. Khi không còn thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường hoặc không tiếp tục bảo đảm tiêu chí lợi nhuận tái đầu tư, doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Nghĩa vụ thông báo này là cơ chế pháp lý nhằm cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, tránh kéo dài tình trạng "mang tên" doanh nghiệp xã hội nhưng thực tế hoạt động như doanh nghiệp thuần lợi nhuận.

Ưu đãi, hỗ trợ và nghĩa vụ báo cáo

Điều luật thừa nhận khả năng doanh nghiệp xã hội được hưởng ưu đãi, hỗ trợ (như ưu đãi cấp phép, chứng chỉ, hỗ trợ tài chính hoặc kỹ thuật) và yêu cầu doanh nghiệp xã hội định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động nếu được hưởng ưu đãi, hỗ trợ. Nghĩa vụ báo cáo là điều kiện kèm theo để duy trì ưu đãi, giúp cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả chính sách và kiểm soát việc thực hiện đúng mục tiêu đã đăng ký. Trong thực tiễn, doanh nghiệp cần lưu ý thiết lập chế độ kế toán, thống kê và báo cáo nội bộ phù hợp để đáp ứng nghĩa vụ này, tránh rủi ro bị thu hồi ưu đãi hoặc xử lý vi phạm.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Thực tiễn dễ xuất hiện nhầm lẫn cho rằng mọi tổ chức hoạt động vì cộng đồng đều là doanh nghiệp xã hội; tuy nhiên, chỉ tổ chức đáp ứng đúng tiêu chí tại khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp và có đăng ký phù hợp mới được xem là doanh nghiệp xã hội. Một nhầm lẫn khác là cho rằng doanh nghiệp xã hội không được chia lợi nhuận; thực tế, điều luật chỉ bắt buộc sử dụng tối thiểu 51% lợi nhuận để tái đầu tư, phần còn lại vẫn có thể phân phối theo quy định nội bộ và pháp luật. Khi áp dụng điều luật, cần kiểm tra đầy đủ: mục tiêu ghi trong điều lệ, đăng ký doanh nghiệp; cơ chế phân phối lợi nhuận; chính sách huy động và sử dụng tài trợ; cùng với việc tuân thủ chế độ báo cáo, thông báo. Đây là các điểm trọng tâm để đánh giá một doanh nghiệp có thực sự hoạt động như doanh nghiệp xã hội theo pháp luật hay không.

Chính sách khuyến khích và vai trò văn bản hướng dẫn

Khoản 4 Điều 10 khẳng định chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội, cho thấy Nhà nước định vị mô hình này như một kênh bổ trợ cho hệ thống an sinh và phát triển bền vững. Khoản 5 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 10, nghĩa là việc áp dụng thực tế phụ thuộc đáng kể vào các nghị định, thông tư hướng dẫn (ví dụ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp xã hội, điều kiện hưởng ưu đãi, chế độ báo cáo). Khi tư vấn hoặc áp dụng, ngoài Điều 10, cần đối chiếu đầy đủ với văn bản dưới luật để bảo đảm nhận diện đúng và vận hành đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội.

Doanh nghiệp xã hội có bắt buộc phải tái đầu tư toàn bộ lợi nhuận không?
Không. Doanh nghiệp xã hội chỉ phải dùng tối thiểu 51% lợi nhuận sau thuế hằng năm để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội đã đăng ký.
Doanh nghiệp hoạt động vì cộng đồng nhưng không đăng ký theo Luật Doanh nghiệp có được coi là doanh nghiệp xã hội?
Không. Phải là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo Luật Doanh nghiệp và đáp ứng thêm các tiêu chí đặc thù mới là doanh nghiệp xã hội.
Doanh nghiệp xã hội có được hưởng ưu đãi gì từ Nhà nước?
Điều 10 ghi nhận chính sách khuyến khích, hỗ trợ và ưu đãi; loại hình, mức độ ưu đãi cụ thể được quy định tại văn bản hướng dẫn của Chính phủ.
Khi doanh nghiệp xã hội không còn tái đầu tư 51% lợi nhuận cho mục tiêu xã hội thì phải làm gì?
Doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi không còn đáp ứng tiêu chí về mục tiêu xã hội, môi trường hoặc tái đầu tư lợi nhuận.
Doanh nghiệp xã hội có được dùng khoản tài trợ để chia cho cổ đông không?
Không. Khoản tài trợ chỉ được dùng để bù đắp chi phí quản lý, chi phí hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường đã đăng ký.
Mục lục văn bản